Lớp 11Ngữ Văn

Biện pháp tu từ sầu đong càng lắc càng đầy | Ngữ Văn 11

Câu hỏi: Biện pháp tu từ “sầu đong càng lắc càng đầy”

Sầu đong càng lắc càng đầy,
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê.

Trả lời:

Bạn đang xem: Biện pháp tu từ sầu đong càng lắc càng đầy | Ngữ Văn 11

– Sử dụng điển tích điển cố:

Ba thu: ý nói đến khoảng thời gian dài, điển cố này muốn diễn tả Kim Trọng đã tương tư Thúy Kiều thì một ngày không thấy mặt mà có cảm giác lâu như ba năm.

– Hoán dụ: ba thu – ba  năm

Ngoài ra, các em cùng THPT Ninh Châu tham khảo thêm các kiến thức hữu ích khác nhé!

1. Điển tích

Điển cố (hay còn gọi là điển tích) là những câu chuyện xưa kể về các tấm gương anh hùng, tấm gương đạo đức hoặc mang tính triết lý nhân văn có thật trong lịch sử, những câu thơ, câu văn kinh điển trong các tác phẩm văn học trước đó.

Điển cố, điển tích có tác dụng giáo dục con người thông qua các tấm gương thời xưa về lòng hiếu thảo, tình cảm anh em, lòng trung thành, tín nghĩa…

Trong văn học, việc sử dụng điển cố, điển tích góp phần tạo nên tính ước lệ tượng trưng, sự trang nhã, cổ kính cho thơ văn của tác giả.

Điển cố là một trong những biện pháp tu từ được vận dụng rộng rãi trong văn học trung đại, bao gồm cả các tác phẩm chữ Nôm, ví dụ như các điển tích điển cố trong Truyện Kiều. Nếu không tìm hiểu ý nghĩa của các điển cố trong Truyện Kiều thì khó lòng hiểu hết giá trị của tác phẩm văn học kinh điển này.

Đồng thời, thông qua các điển tích kinh điển trong lịch sử, các nhà thơ, nhà văn có thể biểu đạt theo ý muốn một cách ngắn gọn, súc tích. Lấy điển cố để lồng ghép, xây dựng câu thơ, câu văn, tạo bối cảnh, nhào nặn hình tượng nhân vật, ám chỉ hàm nghĩa sâu xa, tâm tư của tác giả… Kể từ đó, điển cố được xem như chuẩn mực trong thơ văn.

Ví dụ: Điển cố trong Kiều ở lầu Ngưng Bích

“Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?

Sân Lai cách mấy nắng mưa

Có khi gốc tử đã vừa người ôm”.

Trong trích đoạn này, đại thi hào Nguyễn Du đã sử dụng khá nhiều điển cố, điển tích Trung Quốc như: “tựa cửa hôm mai”, “quạt nồng ấp lạnh”, “sân Lai”, “gốc tử”…

– Tích “quạt nồng ấp lạnh” bắt nguồn từ trong sách “Nhị thập tứ hiếu” của Quách Cự Nghiệp đời nhà Nguyên.

– Đời Hậu Hán có một đứa trẻ 9 tuổi tên là Hoàng Hương. Mẹ mất sớm, Hoàng Hương ở với cha; cậu bé luôn hết mực hiếu thảo, phụng dưỡng cha. Vào mùa hạ, cậu thường xuyên quạt màn chiếu, chăn đệm cho thoáng mát trước khi cha ngủ. Vào mùa đông, trước giờ ngủ, cậu lại nằm lên giường cha lăn qua trở lại rất lâu để chăn chiếu ấm hơi người để cha được ngon giấc.

– Tích “Sân Lai” cũng xuất phát từ trong “Nhị thập tứ hiếu” về ông Lai Tử người nước Sở thời Đông Chu liệt quốc, bảy mươi tuổi nhưng cha mẹ già vẫn còn sống.

– Ông thường mặc áo ngũ sắc sặc sỡ, giả làm trẻ nhỏ, nhảy múa đùa giỡn để chọc cho cha mẹ vui. Có khi ông làm bộ vấp bậc thềm, té lăn ra đất rồi giả tiếng khóc trẻ con để cha mẹ cười.

2. Hoán dụ

Hoán dụ gọi tên các sự vật, các hiện tượng hoặc khái niệm bằng tên sự vật, hiện tượng, khái niệm khác. Chúng đều có nhiều nét gần gũi với nhau nhằm mục đích làm cho sự diễn đạt tốt hơn.

Các kiểu hoán dụ

Thông thường có 4 kiểu hoán dụ thường gặp đó là:

– Chỉ lấy 1 bộ phận để gọi toàn thể.

– Lấy vật chứa đựng gọi vật bị chứa đựng.

– Lấy dấu hiệu sự vật để gọi các sự vật.

– Lấy những cái cụ thể để nói về cái trừu tượng.

=> Như vậy hoán dụ có tác dụng tăng sức gợi hình, gợi cảm giúp cho sự diễn đạt có tính hiệu quả cao.

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button