Lớp 12Ngữ Văn

Bình giảng 8 câu đầu trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu (hay nhất)

Tuyển chọn những bài văn hay Bình giảng 8 câu đầu trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu. Với những bài văn mẫu hay nhất dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Bình giảng 8 câu đầu trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu – Bài mẫu 1

     Tố Hữu là một trong những nhà thơ đi đầu trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Những sáng tác của ông đều mang lại những dấu ấn riêng, để lại nhiều dư âm tốt đẹp trong trái tim độc giả. Việt Bắc là một trong những sáng tác như thế. Bài thơ được sáng tác nhân sự kiện Hiệp đình Giơ-ne-vơ được ký kết sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại ở miền Bắc, các cơ quan trung ương của Đảng rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Tám câu đầu trong bài thơ đã thể hiện một sự lưu luyến, bịn rịn giữa những người cán bộ và nhân dân miền ngược khi sắp phải rời xa nhau sau bao năm gắn bó với biết bao ân tình.

Bạn đang xem: Bình giảng 8 câu đầu trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu (hay nhất)

     Khổ thơ đầu bài thơ là tiếng lòng của những người ở lại nói với cán bộ chiến sĩ chuẩn bị về dưới xuôi:

“Mình về mình có nhớ ta?

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không?

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.”

     Với cách sử dụng cặp đại từ “mình – ta”, người đọc cảm nhận được sự ngọt ngào, gần gũi thân thương vô cùng giữa chiến sĩ và người dân. Bởi lẽ, con người ta phải thật sự thân thiết lắm mới gọi nhau bằng “mình”, bằng “ta” như thế. Nhà thơ đã rất tài tình khi sử dụng câu hỏi “mình về mình có nhớ” tạo cho người đọc cảm giác rất đỗi thân quen như trong ca dao, dân ca Việt Nam “Mình về mình có nhớ ta – Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”. Điệp từ “Mình về mình có nhớ” được điệp lại hai lần trong khổ thơ, cũng là hai câu hỏi tu từ đắt giá nhất trong đoạn đầu đã cho thấy sự trào dâng cảm xúc, lưu luyến khôn nguôi của người ở lại. Lưu luyến như thế, chân thành như thế cũng vì “mười lắm năm ấy thiết tha mặn nồng”. Thì ra đây là cuộc chia tay của những con người đã từng gắn bó keo sơn, đã cùng nhau trải qua bao khó khăn trong suốt quãng thời gian “mười lăm năm” dài. Chỉ với bốn từ “thiết tha mặn nồng” đủ để nhà thơ diễn tả được sự gần gũi, sự sẻ chia đắng cay ngọt bùi và tấm chân tình sâu sắc của những cán bộ chiến sĩ và nhân dân dành chon nhau trong suốt bao năm tháng. Hình ảnh đặc trưng, giản dị của Việt Bắc được nhà thơ đưa vào trong câu thơ như “cây”, “núi”, “sông”, “nguồn” là lời nhắc nhở những người về xuôi có nhớ về những hình ảnh gần gũi thân thương của mái nhà chung đã nuôi dưỡng bao người con của cách mạng.

     Đáp lại những lời lẽ ân tình, lưu luyến của đồng bào Việt Bắc là nỗi niềm xúc động, lưu luyến của chiến sĩ về xuôi:

– Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

     Những người ở lại thì cứ “tha thiết” như thế khiến cho người ra đi cũng không khỏi trào dâng một nỗi niềm “bâng khuâng” xúc động trong lòng, “bồn chồn” khó tả trong từng bước đi. Các từ láy “bâng khuâng”, “bồn chồn” dường như đã diễn tả rất đúng tâm trạng của người ra đi lúc này. Đó là lưu luyến khôn nguôi, là bịn rịn chẳng muốn xa rời. Làm sao không bâng khuâng cho được khi mà phải chia tay những người dân thật thà, chất phác đã cùng đồng cam cộng khổ với chiến sĩ suốt bấy nhiêu năm. Hình ảnh “áo chàm” trong câu thơ là hình ảnh hoán dụ của toàn thể đồng bào Việt Bắc, những con người giản dị, nghèo khó nhưng luôn chứa chan tình nghĩa. Hiện lên trong tâm trí người đọc qua hình ảnh “áo chàm” là những cụ già làng râu tóc bạc phơ, là các mế đôn hậu vẫn giã gạo nuôi bộ đội, vá áo cho các anh hàng đêm, là các em thơ hàng ngày vẫn vui đùa dưới gốc cây trước mỗi ngôi nhà sàn. Bao nhiêu kỷ niệm gắn bó cùng tình cảm chân tình của những người con Việt Bắc khiến chiến sĩ không khỏi nghẹn ngào. Nỗi nghẹn ngào thật khó có thể diễn tả bằng lời trong không khí chia tay xúc động ấy, khiến cán bộ về xuôi chỉ có thể “cầm tay” mà “không biết nói gì hôm nay”. Không nói gì không phải không có gì để nói mà có lẽ có quá nhiều thứ để nói nhưng sự nghẹn ngào khiến các anh khó có thể diễn tả được bằng lời nói. Chỉ hành động “cầm tay nhau” thôi cũng đủ để thể hiện sự trân trọng và biết ơn sâu sắc tới đồng bào đã cưu mang người chiến sĩ cách mạng.

     Cả hai khổ thơ đầu của bài thơ thành công khi thể hiện ngập tràn nỗi nhớ và tình cảm giữa người ở lại và người ra đi. Để có được thành công ấy không thể không nhắc đến nghệ thuật sử dụng thể thơ lục bát cùng lối đối đáp giao duyên trong ca dao dân ca Việt Nam tạo nên những vần thơ giản dị, giọng điệu trữ tình ngọt ngào dễ chạm tới trái tim của người đọc, người nghe.

     Bằng việc sử dụng ngôn ngữ tài tình, các biện pháp tu từ khéo léo, chỉ với tám câu thơ ngắn gọn nhưng bao trùm nỗi nhớ, nhà thơ Tố Hữu đã tái hiện lại sự lưu luyến, bịn rịn lúc chia tay giữa đồng bào miền núi với cán bộ chiến sĩ trước khi rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội sau một khoảng thời gian dài gắn bó. Đoạn thơ đầu chứa chan ân tình cũng góp một phần tạo nên thành công cho toàn bài thơ, để lại nhiều tình cảm tốt đẹp trong trái tim người đọc.

Bình giảng 8 câu đầu trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu – Bài mẫu 2

     “Việt Bắc” – khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Mà ở đó, từng câu từng chữ chứa đựng bao nỗi nhớ niềm thương của tác giả về những ngày tháng dài chiến đấu cam go quyết liệt nơi núi rừng Tây Bắc:

“Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

     Những vần thơ ngọt ngào thiết tha được cất lên từ tiếng lòng của Tố Hữu – một nhà thơ đi đầu trong thơ ca cách mạng Việt Nam. Cả cuộc đời ông đã gắn bó với sự nghiệp chung của đất nước. Thế nên, thơ ông cũng luôn gắn bó với những sự kiện chính của lịch sử nước nhà. “Việt Bắc” cũng vậy, bài thơ được viết năm 1954, sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về xuôi, trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về lại thủ đô. Trong cuộc chia tay đầy xúc động ấy, Tố Hữu đã gửi gắm tất cả tâm tư tình cảm của mình vào bài thơ. Đặc biệt là 8 câu thơ đầu như tiếng nấc nghẹn ngào thay cho giọt nước mắt trong buổi phân li.

     “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” đâu dễ gì có thể quên. Ngược lại, mười lăm năm ấy là cả một khoảng trời kỷ niệm bao nhớ thương khiến lòng người ta bịn rịn, xao xuyến không nỡ rời xa. Tình dân quân, rồi tình nghĩa sâu đậm của những con người chưa một lần gặp mặt nhưng đã cùng nhau vào sinh ra tử, cùng thề nguyền sống chết cho Tổ quốc được độc lập, tự do… Những tình cảm ấy thật thiêng liêng và cao quý biết bao. Sẽ chẳng có ngòi bút nào có thể diễn tả được sự sâu nặng của tình nghĩa ấy. Thế nên, nhà thơ đã dùng cặp đại từ “mình – ta” để diễn tả sự gắn bó, thể hiện tình cảm nồng nàn giữa quân miền xuôi và dân miền ngược. Chỉ khi yêu thương nhau lắm, gần gũi nhau lắm, người ta mới có cách gọi “mình – ta”, tuy hai nhưng là một. Và càng gắn bó, càng yêu thì giây phút chia xa lại càng buồn, càng thấm thía. Những câu hỏi như thổn thức khiến người đi không khỏi rơi nước mắt: “Mình về mình có nhớ ta”, “Mình về mình có nhớ không”.

     Những câu hỏi không có câu trả lời hoặc do nghẹn ngào quá đến nỗi không nói được thành lời. Sau mười lăm năm gắn bó, lúc gian nan hoạn nạn, lúc tưởng chừng như không còn hơi thở, không còn cơ hội gặp lại nhau nhưng vì sự quyết tâm và đồng lòng đồng sức, những con người chung một niềm tin chiến đấu đã cùng nhau đứng lên, cùng vượt qua bao sóng gió, bao vất vả. Cũng có những người đã bỏ mình lại nơi chiến trường xa xôi, không thể trở về đoàn tụ cùng đồng đội, cùng gia đình được nữa. Giờ là lúc mọi sóng gió đã qua, lúc niềm vui chiến thắng chan hòa khắp nơi thì lại là lúc phải chia ly. Kẻ ra đi, người ở lại. Chỉ còn những kỷ niệm ngày nào hằn in trong tâm trí mỗi người. Khi kháng Nhật, khi chống Pháp, lúc mà sự sống và cái chết cận kề nhau, người ta sẽ cảm nhận được hết những nghĩa tình dành cho nhau. Để rồi, khi xa nhau, người ta sẽ luôn nhớ đến nhau, “Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”.

“Tiếng ai tha thiết bên cồn

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

     “Tiếng ai”, là tiếng của ai thiết tha khiến cho lòng ai bâng khuâng, bồn chồn không nỡ cất bước ra đi? Những vần thơ bịn rịn khiến người đọc cũng thấy xao xuyến theo. Mặc dù tác giả đã bỏ ngỏ phần chủ ngữ nhưng đọc câu thơ, ta vẫn hiểu được ai là người rối bời bao cảm xúc trong tâm trí. Có lẽ trong giây phút ấy, kẻ ở người đi chỉ có thể “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”. Dấu ba chấm bị bỏ lửng thay cho bao điều muốn nói. Xúc động và nghẹn ngào, hẳn là trong giây phút này có không ít người đang rưng rưng nước mắt. Lúc gian khó ở bên nhau, giờ hòa bình độc lập lại phải xa nhau. Tình nghĩa sắt son, mặn nồng nhưng cuộc gặp gỡ nào rồi cũng đến lúc phải chia ly. Hình ảnh “áo chàm” ở đây chính là những người dân miền núi, Tố Hữu đã khéo léo tận dụng hình ảnh ẩn dụ này càng thể hiện sự gần gũi, giản dị giữa quân và dân miền núi. Họ không cùng một quê hương, nhưng chung một đất nước, có thể lý tưởng sống của mỗi người cũng khác nhau nhưng một khi đã gặp nhau trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lấn, trong lòng họ không ai bảo ai đều chung một niềm tin chiến đấu, chiến đấu đến cùng đập tan quân giặc.

     Như vậy, chỉ qua tám câu thơ đầu, tác giả đã tái hiện lại cuộc phân ly đầy xúc động. Mặc dù không có một từ ngữ nào mang tên nước mắt nhưng với những từ ngữ giản dị và gần gũi lại khiến cho mọi người rưng rưng. Qua đó ta càng thấu hiểu tấm lòng sắt son của những người dân miền núi đã dành trọn cho kháng chiến, cho đất nước. Để từ đó nhân dân ta mới giành được thắng lợi vẻ vang, lập lại hòa bình cho dân tộc. Những vần thơ ngắn gọn, thấm đượm tình cảm đã đi vào lòng người một cách rất tự nhiên. Từ đó, nhà thơ và cũng là người chiến sĩ cách mạng nhắn nhủ tới thế hệ sau hãy tiếp bước cha anh gìn giữ và dựng xây đất nước ngày một giàu mạnh hơn, tươi đẹp hơn.

Trên đây là các bài văn mẫu Bình giảng 8 câu đầu trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu do THPT Ninh Châu sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button