Lớp 12Sinh Học

Chức năng của tARN là

Câu hỏi: Chức năng của tARN là:

A. Vận chuyển nucleic tới riboxom

B. Cùng với protein cấu tạo nên riboxom

Bạn đang xem: Chức năng của tARN là

C. Truyền thông tin từ ADN tới riboxom

D. Vận chuyển axit amin tới riboxom

Trả lời:

Đáp án đúng:  D. Vận chuyển axit amin tới riboxom

Chức năng của tARN là vận chuyển axit amin tới riboxom.

Cùng THPT Ninh Châu tìm hiểu chi tiết hơn về ARN nhé.

1. ARN là gì?

Acid ribonucleic (ARN hay RNA) là một phân tử polyme cơ bản có nhiều vai trò sinh học trong mã hóa, dịch mã, điều hòa, và biểu hiện của gene. RNA và DNA là các acid nucleic, và, cùng với lipid, protein và cacbohydrat, tạo thành bốn loại đại phân tử cơ sở cho mọi dạng sự sống trên Trái Đất. Giống như DNA, RNA tạo thành từ một chuỗi nucleotide, nhưng không giống DNA là thường tìm thấy nó ở dạng tự nhiên là một sợi đơn gập lại vào chính nó, hơn là sợi xoắn kép. Các sinh vật tế bào sử dụng RNA thông tin (mRNA) đề truyền đạt các thông tin di truyền (sử dụng các base nitric guanine, uracil, adenine, và cytosine, ký hiệu tương ứng bằng các chữ cái G, U, A, và C) cho phép tổng hợp trực tiếp lên các protein chuyên biệt. Nhiều virus mã hóa thông tin di truyền của chúng trong bộ gene RNA.

Một số phân tử RNA đóng vai trò hoạt động bên trong tế bào như là những chất xúc tác cho các phản ứng sinh học, kiểm soát biểu hiện gene, hoặc những đáp ứng cảm nhận và liên lạc trong quá trình truyền tín hiệu tế bào. Một trong những quá trình hoạt động chính là sinh tổng hợp protein, một chức năng phổ biến mà các phân tử RNA trực tiếp tham gia tổng hợp protein trên phân tử ribosome. Quá trình này sử dụng các phân tử RNA vận chuyển (tRNA) mang các amino acid đến phức hệ ribosome, nơi các phân tử RNA ribosome (rRNA) thực hiện ghép nối các amino acid với nhau tạo thành chuỗi tiền protein.

2. Cấu trúc của ARN

Cấu trúc hóa học

ARN là một đại phân tử hữu cơ (nhỏ hơn ADN), có cấu trúc theo nguyên tắc đa phân. Mỗi đơn phân là 1 ribonuclêôtit.

* Mỗi ribonucleotit gồm 3 thành phần:

1 phân tử đường 5C (ribôzơ – C5H10O5)

1 nhóm photphat PO43- (H3PO4)

1 trong 4 loại bazơ nitơ là Adenin (A), Uraxin (U), Guanin (G) và Xitozin (X).

 => Các ribonu giống nhau thành phần đường và nhóm PO43-, nhưng khác bazonito. Tên ribonu được gọi theo tên bazonito (A, U, G, X.)

Các ribonucleotit liên kết với nhau theo 1 chiều xác định tạo nên chuỗi polyribonucleotit. Đại đa số các phân tử ARN chỉ được cấu tạo từ 1 chuỗi polyribonucleotit. Trong chuỗi đó, có các đoạn có thể bắt cặp bổ sung với nhau bằng liên kết H giữa các bazơ nitơ của các ribonucleotit  theo nguyên tắc bổ sung (A=U, G≡X) tạo nên các đoạn xoắn kép cục bộ. 

Cấu trúc không gian

Chức năng của tARN là (ảnh 2)

Các ribonu liên kết nhau bằng liên kết hóa trị giữa nhóm OH(C3) với nhóm PO43-(C5) của nu kế tiếp.

Chiều dài và kích thước của ARN nhỏ so với ADN.

Chiều của ARN: 5’ – 3’.

Phân tử ARN chỉ có 1 mạch đơn.

3. Các loại ARN

ARN được chia thành 3 loại khác nhau:

mARN cấu tạo từ một chuỗi polinuclêôtit dưới dạng mạch thẳng, mARN có chức năng truyền đạt thông tin di truyền tử mạch gốc trên ADN đến chuỗi polipepetit. Để thực hiện chức năng truyền đạt thông tin di truyền từ ADN đến protein thì ARN có 

– Trình tự nucleotit đặc hiệu giúp cho riboxom nhận và liên kết vào ARN 

– Mã mở đầu : tín hiệu khởi đầu phiên mã 

– Các codon mã hóa axit amin:  

– Mã kết thúc, mang thông tin kết thúc quá trình dịch mã 

tARN có cấu trúc với 3 thuỳ, trong đó có một thuỳ mang bộ ba đối mã có trình tự bổ sung với 1 bộ ba mã hóa axit amin trên phân tử mARN , tARN có chức năng vận chuyển axit amin tới ribôxôm để tổng hợp nên chuỗi polipetit .

rARN có cấu trúc mạch đơn nhưng nhiều vùng các nuclêôtit liên kết bổ sung với nhau tạo các vùng xoắn kép cục bộ. rARN liên kết với các protein tạo nên các riboxom. rARN là loại ARN có cấu trúc có nhiếu liên kết hidro trong phân tử nhất và chiếm số lượng lớn nhất trong tế bào. 

ARN được cấu tạo theo nguyên tắc đa phân. Đơn phân là nuclêôtit gồm 4 loại là A (ađêmin), G (guanin), X (xitozin) và U (uraxin). 

4. Nguyên tắc tổng hợp ARN

ARN được tổng hợp từ ADN ở kì trung gian của NST trong quá trình phân bào.

ARN được tổng hợp dựa trên một mạch đơn của gen (được gọi là mạch khuôn).

Trong quá trình hình thành mạch ARN các nuclêôtit trên mạch khuôn của ADN và môi trường nội bào liên kết với nhau theo nguyên tắc bổ sung (NTBS: A-U, T-A; G-X; X-G).

Trình tự các loại đơn phân trên ARN giống với trình tự mạch bổ sung của mạch khuôn, chỉ khác là T được thay bằng U.

ARN được tổng hợp dựa trên khuôn mẫu là một mạch của gen và diễn ra theo nguyên tắc bổ sung. Do đó, trình tự các nuclêôtit trên mạch khuôn của gen quy định trình tự các nuclêôtit trên mạch ARN.

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 12, Sinh Học 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button