Lớp 12Sinh Học

Đặc điểm nào sau đây không phải của enzim?

Trắc nghiệm: Đặc điểm nào sau đây không phải của enzim?

A. Là hợp chất cao năng

B. Là chất xúc tác sinh học

Bạn đang xem: Đặc điểm nào sau đây không phải của enzim?

C. Được tổng hợp trong các tế bào sống

D. Chỉ làm tăng tốc độ phản ứng mà không bị biến đổi sau phản ứng

Trả lời:

Đáp án A. Là hợp chất cao năng

Enzim không phải là hợp chất cao năng. Enzim là chất xúc tác sinh học được tổng hợp trong tế bào sống.

Enzim làm tăng tốc độ của phản ứng mà không bị biến đổi sau phản ứng.

Cùng THPT Ninh Châu tìm hiểu enzim các em nhé!

1. Khái niệm enzim

– Enzim hay enzym là chất xúc tác sinh học được tổng hợp trong các tế bào sống có thanh phần cơ bản là protein. Enzim kích thích làm tăng tốc độ phản ứng mà không bị biến đổi sau phản ứng.

– Enzim có cấu trúc phức tạp, đặc biệt là ở vùng trung tâm hoạt động  – đây là nơi chuyên lên kết với cơ chất. Cấu hình không gian của tâm hoạt động và cơ chất tương thích với nhau. Cơ chất liên kết tạm thời với enzim, dẫn đến phản ứng được xúc tác.

– Tên enzim = tên cơ chất + aza

2. Các loại enzim phổ biến

Enzim chuyển hóa: sản sinh trong các tế bào. Các loại enzim chuyển hóa sẽ giúp cơ thể tổng hợp năng lượng và sử dụng năng lượng. Những năng lượng này rất quan trọng cho cơ thể vì chúng sẽ giúp chúng ta suy nghĩ, hít thở, chuyển động…

Enzim tiêu hóa: tiết ra trong tuyến nước bọt, dạ dày, tuyến tụy và ruột non. Các loại enzim tiêu hóa do trong bộ máy tiêu hóa sinh ra nhằm giúp cơ thể tiêu hóa thực phẩm. Enzim tiêu hóa ( bao gồm 5 enzim Protease, Amylase, Lactase, Cellulase, Lipase).

Enzim thực phẩm: là những enzim có trong thực phẩm tươi sống được đưa vào cơ thể qua thức ăn còn gọi là enzim hữu cơ. Chúng giúp enzim tiêu hóa phá vỡ thức ăn. Enzime này thường cần đến sự kết hợp của các vitamin và khoáng chất và trở thành các co-enzim để đảm bảo cho hoạt động đúng chức năng của chúng.

3. Cơ chế tác động của Enzim

– Enzim liên kết với cơ chất  → enzim-cơ chất  → enzim tương tác với cơ chất → enzim biến đổi cấu hình cho phù hợp với cơ chất→ giải phóng enzim và tạo cơ chất mới.

– Do cấu trúc của trung tâm hoạt động của enzim mỗi loại enzim chỉ tác động lên 1 loại cơ chất nhất định  →  Tính đặc thù của enzim.

4. Các nhân tố tác động đến hoạt tính của enzim

a. Nhiệt độ

– Mỗi enzim đều có một nhiệt độ tối ưu – ở nhiệt độ này enzim sẽ có hoạt tính tối đa làm cho tốc độ phản ứng xảy ra nhanh nhất. Nhiệt độ hoạt động nằm trong một giới hạn nhất định, nếu nhiệt độ cao quá sẽ làm protein bị biến tính dẫn đến enzim cũng bị biến tính, còn ở nhiệt độ quá thấp enzim sẽ ngừng hoạt động.

Ví dụ: Enzim trong nước bọt hoạt động tốt ở nhiệt độ 37 – 40 độ C và bị phá hủy ở nhiệt độ khoảng 100 độ C.

b. Độ pH

– Enzim chỉ hoạt động trọng một giới hạn có nồng độ pH nhất định. Mỗi enzim thì có một nồng độ pH tối ưu khác nhau như: Alimaza hoạt động tốt ở nồng độ pH = 7, enzim pepsin ở dạ dày hoạt động tốt khi nồng độ pH = 7.

c. Nồng độ enzim và nồng độ cơ chất

– Trong một giới hạn nhất định, hoạt tính enzim tỉ lệ thuận với nồng độ enzim và nồng độ cơ chất.

d. Chất ức chế và chất hoạt hóa

– Hoạt tính của enzim có thể tăng hoặc giảm nhờ sự tác động của hóa chất. Ví dụ NaCl (nồng độ 0.9 -> 1%) sẽ làm tăng hoạt tính của enzim alimaza, CuSO4 (1 – 5%) sẽ làm giảm hoạt tính của enzim alimaza.

5. Vai trò của enzim

a. Vai trò của enzim trong quá trình chuyển hóa vật chất

Nhờ enzim mà các quá trình sinh hóa trong cơ thể sống xảy ra rất nhạy với tốc độ lớn trong điều kiện sinh lí bình thường. Khi có enzim xúc tác, tốc độ của một phản ứng có thể tăng hàng triệu lần. Nếu tế bào không có các enzim thì các hoạt động sống không thể duy trì được vì tốc độ của các phản ứng sinh hoá xảy ra quá chậm.

Tế bào có thể điều hòa quá trình chuyển hoá vật chất thông qua điều khiển hoạt tính của các enzim bằng các chất hoạt hoá hay ức chế. Các chất ức chế đặc hiệu khi liên kết với enzim sẽ làm biến đổi cấu hình của enzim làm cho enzim không thể liên kết được với cơ chất. Ngược lại, các chất hoạt hoá khi liên kết với enzim sẽ làm tăng hoạt tính của enzim.

Ức chế ngược là kiểu điều hoà trong đó sản phẩm của con đường chuyển hoá quay lại tác động như một chất ức chế, làm bất hoạt enzim xúc tác cho phản ứng ở đầu của con đường chuyển hoá.

Khi một enzim nào đó trong tế bào không được tổng hợp hoặc tổng hợp quá ít hay bị bất hoạt thì sản phẩm không những không được tạo thành mà cơ chất của enzim đó cũng sẽ bị tích luỹ lại gây độc cho tế bào hoặc có thể được chuyển hoá theo con đường phụ thành các chất độc gây nên các triệu chứng bệnh lí. Các bệnh đó ở người được gọi là bệnh rối loạn chuyển hoá.

b. Vai trò của enzim trong cơ thể người

Tiến sĩ Edward Howell, người tiên phong trong việc nghiên cứu enzim cho rằng con người chỉ có một số lượng men tiêu hóa giới hạn và chất lượng cuộc sống của chúng ta sau này ra sao phụ thuộc vào việc chúng ta đã bảo quản nguồn tài nguyên đó như thế nào.

Theo đó, ông cho rằng nếu chúng ta  ăn những thực phẩm đã bị mất gần hết enzim thì cơ thể phải làm việc nhiều hơn để sản xuất ra enzim bù lại để hỗ trợ cho hệ tiêu hóa tiến hành đồng hóa chất trong thực phẩm đó. Quá trình sản xuất enzim liên quan chặt chẽ đến quá trình tiêu hóa và nó tiêu tốn một lượng năng lượng lớn.

Khi tiêu thụ thức ăn thiếu enzim, các enzim trong cơ thể sẽ phải hoạt động hết công suất. Các mô như não, tim, phổi, thận, gan và cơ sẽ không nhận đủ lượng enzim chúng cần để hoạt động bình thường.

Theo tiến sĩ Howell, thiếu hụt enzim chuyển hóa là nguyên nhân chính dẫn đến phần lớn chứng bệnh như bệnh tim mạch, bệnh ung thư, tiểu đường và các bệnh mãn tính khác.

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 12, Sinh Học 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button