Lớp 10Ngữ Văn

Dàn ý cái nhàn của người cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn – Văn mẫu 10 hay nhất

Tham khảo Dàn ý phân tích cái nhàn của người cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn, tổng hợp đầy đủ dàn ý chung và những bài văn cảm nhận ngắn gọn, chi tiết, hay nhất. Qua các bài văn mẫu sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về tác phẩm, cùng tham khảo nhé!

Dàn ý phân tích cái nhàn của người cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn

I. Mở Bài
Giới thiệu bài thơ: “Nhàn” là một bài thơ hay và tiêu biểu cho hồn thơ và nhân cách sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm, quan niệm sống nhàn được ông thể hiện vô cùng bình dị mà tinh tế.

Bạn đang xem: Dàn ý cái nhàn của người cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn – Văn mẫu 10 hay nhất

II. Thân Bài
* Cái “nhàn” trong cuộc sống của tác giả:
– Cuộc sống thuần nông với thú vui cùng ruộng vườn.
– Những vật dụng trong lao động: Mai, cuốc, cần câu,…
– Kiên định với lẽ sống lựa chọn: “thơ thẩn” với ruộng đồng, chẳng bận tâm chi chuyện người sung, kẻ sướng
– Sinh hoạt của ông cũng gắn với thiên nhiên, hoà hợp với thiên nhiên
+ Thức ăn đạm bạc như măng trúc, giá,…từ thiên nhiên
+ Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
=> Bức tranh cuộc sống êm đềm, thong dong, tự do, một cuộc sống gần gũi và hòa hợp với tự nhiên, lấy thiên nhiên làm bạn tâm tình tri kỷ.
* Vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ
– Tự nhận mình là ” dại”, chọn chốn ” vắng vẻ” nơi không có tranh giành, mưu đoạt, xua nịnh, bon chen.
– Thái độ coi thường phú quý, xa hoa: xem giàu sang, phú quý tựa giấc chiêm bao.

III. Kết Bài

   Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, sống nhàn không phải là sống ích kỉ, thoát ly thực tại để giữ cho riêng mình, mà là lối sống thanh cao giữa cuộc đời, sống trọn vẹn và gắn bó với nhân dân, với dân tộc.

Phân tích cái nhàn của người cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn – Bài văn mẫu số 1

    Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ nổi bật và tiêu biểu trong nền văn học trung đại Việt Nam. Thơ ông không chỉ là tiếng cười chua chát, thấm đẫm những triết lý sâu cay mà thơ ông còn mang những quan niệm sống tích cực. Bài thơ “Nhàn” là một bài thơ hay và tiêu biểu cho hồn thơ và nhân cách sống của ông, quan niệm sống nhàn được ông thể hiện vô cùng bình dị mà tinh tế.

“Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

    Câu thơ mở đầu thật gần gũi, thân thương, với những vật dụng trong cuộc sống thuần nông của người dân Việt, tác giả bằng lòng, thong dong và thảnh thơi với của sống ao sâu, ruộng vườn. Số từ “một” với biện pháp tu từ liệt kê tạo nên nhịp điệu cho câu thơ lại vừa diễn tả được tâm thế sẵn sàng, ung dung trong công việc của nhà thơ. Dẫu nơi phồn hoa đô hội, người người có vui với những thứ xa hoa, với những phù phiếm thì nhà thơ vẫn “thơ thẩn” với thú vui ruộng vườn, chẳng bận tâm chi đến chuyện danh lợi, vật chất hư ảo ấy. Câu thơ thứ hai cho thấy được sự kiên định trong cách lựa chọn lối sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

” Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

     Công việc gần gũi với mảnh đất quê nhà, sinh hoạt của ông cũng gắn với thiên nhiên, hoà hợp với thiên nhiên. Những thức ăn đạm bạc như măng trúc, giá,…được tác giả kết hợp với danh từ chủ mùa cùng cách ngắt nhịp 3/3 như một sự chấp nhận và hài lòng với cuộc sống bình dị mà thanh đạm ấy. Sự đủ đầy giàu sang không có nhưng bù lại là có thiên nhiên cùng người bầu bạn tâm tình, cùng nuôi sống và làm đẹp cho thú” nhàn” của nhà thơ. Hai câu thơ dường như khắc họa một bức tranh tứ bình về cảnh sinh hoạt của con người giữa thiên nhiên với bốn mùa, rất đỗi chân thực mà gần gũi, yêu thương. Có lẽ, lúc này đây nhà thơ đang rất tự hào với cuộc sống thanh đạm mà mình chọn lựa, lấy lẽ tự nhiên làm nguồn vui để di dưỡng tinh thần mình, sống xã lánh đời với đầy rẫy những xảo trá, bất công:

” Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao”

    Nhà thơ tự nhận mình là “dại”, chọn chốn “vắng vẻ” nơi không có tranh giành, mưu đoạt mà chọn chốn đồng ruộng, tâm hồn được tự do, thanh thản, được chọn lựa sở thích, lẽ sống cho mình. Người “khôn” lại đến chốn thị thành đông đúc, nơi quan trường hiểm ác, tư lợi, tranh giành địa vị, quyền cao, chức tước. Bằng nghệ thuật tương phản, tác giả đã vạch rõ sự đối lập giữa kẻ dại, người khôn, giữa cuộc sống nhàn với cuộc sống xô bồ, vội vàng nơi phố xá để một lần nữa khẳng định sự lựa chọn trong cách sống của mình là đúng đắn, là kiên định. Lối sống nhàn đã mang lại cho nhà thơ những thú vui tao nhã, bản thân được là chính mình giữa đời sông, được tận hưởng hết tất thảy mọi vẻ đẹp của thiên nhiên, được sống trong sự đùm bọc, yêu thương của những người dân nghèo mà thiện lương, khó khăn về vật chất mà tình cảm đong đầy, ấm áp. Cách nói ngược “dại”, “khôn” của tác giả như một sự mỉa mai hóm hỉnh về đời sống nơi quan trường hiểm độc, đầy những mưu lợi, ích kỷ.

” Khôn mà hiểm độc là khôn dại
Dại vốn hiền lành, ấy dại khôn”

    Có lẽ, chính vì vậy mà đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, những giàu sang, phú quý vật chất chẳng đáng để đong đếm với sự giàu sang nơi đáy sâu tâm hồn:

“Rượu đến cội cây, ta sẽ uống
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

     Mượn điển cố thời Đường, tác giả đã thể hiện thái độ coi thường phú quý, xa hoa. Với nhà thơ, công danh đến thì dùng chẳng cần chỉ phải tính toán, bọn chen, xua nịnh mà có được. Giờ đây, phú quý như một giấc chiêm bao vậy, rồi cũng tàn và tận theo thời gian, khi tỉnh giấc, sau cùng vẫn chỉ có mình ta trơ trọi, mơ gì giàu sang phú quý, mơ những giấc mộng đẹp về ăn yên, ấm no cho dân mình thật đáng quý biết bao. Một lần nữa, nhà thơ khẳng định chắc chắn về lẽ sống của mình, chẳng màng danh lợi, coi thường phú quý, công danh.

    Với Nguyễn Bỉnh Khiêm, sống nhàn không phải là sống ích kỉ, thoát ly thực tại để giữ cho riêng mình, mà là lối sống thanh cao giữa cuộc đời, sống trọn vẹn và gắn bó với nhân dân, với dân tộc. Bởi vậy mà trong thơ ông vẫn luôn đau đáu chuyện thế thái nhân tình, vẫn dành trọn tấm lòng mình cho dân, cho nước.

Phân tích cái nhàn của người cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn – Bài văn mẫu số 2

Dàn ý cái nhàn của người cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn -  (ảnh 2)

    Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có học vấn uyên thâm, từng làm quan nhưng vì cảnh quan trường nhiều bất công nên ông đã cáo quan về ở ấn. Ông còn được biết đến là nhà thơ nổi tiếng với hai tập thơ “Bạch Vân am thi tập” và “Bạch Vân quốc ngữ thi”. “Nhàn” là bài thơ Nôm nằm trong tập “Bạch Vân quốc ngữ thi”. Nhan đề bài thơ là do người đời sau đặt. Bài thơ như lời tâm sự nhẹ nhàng mà sâu sắc, khẳng định quan niệm sống hòa hợp với tự nhiên, giữ được cốt cách thanh cao, khí tiết cương trực, vượt lên trên những danh lợi tầm thường. Xuyên suốt bài thơ là một tư thái ung dung, điềm tĩnh của tác giả. Có thể xem đây là điểm nhấn, là tinh thần chủ đạo của bài thơ. Chỉ với tám câu thơ đường luật nhưng tác giả đã mang đến cho người đọc một cuộc sống an nhàn nơi đồng quê êm ả.

    Mở đầu bài thơ là những hình ảnh quen thuộc của làng quê Bắc Bộ, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã giới thiệu cho mọi người về cuộc sống nhàn hạ, thảnh thơi của mình:

                  “Một mai một cuốc, một cần câu

                  Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

     Với phép lăp “một” – “một”, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vẽ lên trước mắt người đọc một khung cảnh bình dị, đơn sơ nơi quê nghèo, dù một mình nhưng không hề đơn độc. Hai câu thơ toát lên sự thanh tịnh của tâm hồn và êm đềm của thiên nhiên ở vùng quê Bắc Bộ. “Một cuốc”, “một cần câu” gợi lên sự bình dị, mộc mạc của một người nông dân chất phác. Hình ảnh Bạch Vân cư sĩ hiện lên là một lão nông an nhàn, thảnh thơi với thú vui tao nhã là câu cá và làm vườn. Đây có thể nói là cuộc sống đáng mơ ước nhưng không phải ai cũng có thể dứt bỏ được chốn quan trường về với đồng quê như thế này. Động từ “thơ thẩn” ở câu thơ thứ hai đã tạo nên nhịp điệu khoan thai, êm ái cho người đọc. Bất chấp vòng danh lợi ngoài kia, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn ung dung với thú vui của mình, vẫn thong thả sống hòa nhập cùng thiên nhiên tươi đẹp.

Đến hai câu thơ thực, nhà thơ lại bày tỏ quan niệm của mình về cái “khôn – dại” ở đời:

“Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

Người khôn người đến chốn lao xao”

     Đây có thể xem là tuyên ngôn sống của tác giả những năm tháng sau khi cáo quan về ở ẩn. Ông tự nhận mình “dại” khi tìm nơi vắng vẻ đến sống, nhưng đây là cái “dại” khiến nhiều người ghen tỵ và ngưỡng mộ. Nguyễn Bỉnh Khiêm rất khéo léo trong việc dùng từ ngữ. Ông bảo rằng những người chọn chốn quan trường là những người “khôn”. Một cách khen rất tinh tế, khen mà chê, cũng có thể là khen mình và chê người. Tứ thơ ở hai câu này hoàn toàn đối lập nhau từ ngôn ngữ đến dụng ý “dại” – “khôn”, “vắng vẻ” – “lao xao”. Nguyễn Bỉnh Khiêm tìm về nơi vắng vẻ để ở có phải là trốn tránh trách nhiệm với nước hay không? Với thời thế như vậy giờ và với cốt cách của ông thì “nơi vắng vẻ” mới thực sự là nơi để ông sống đến suốt cuộc đời. Ông không muốn bị quấn vào vòng lợi danh, vào dòng nước đục chốn quan trường nhiễu nhương. Dù chỉ sống nơi quê nghèo “vắng vẻ”, ông vẫn cảm thấy vui thích hơn chốn quan trường. Có thể thấy, đây quả là một cốt cách thanh cao, một tâm hồn đáng ngưỡng mộ.

Hai câu luận đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn và thanh cao của người ẩn sĩ:

“Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”

    Một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của “lão nông nghèo”. Mùa nào đều tương ứng với thức ăn đấy, tuy không có sơn hào hải vị nhưng những thức ăn có sẵn này lại đậm đà hương vị quê nhà, khiến tác giả an phận và hài long. Mùa thu có măng trúc ở trên rừng, mùa đông ăn giá. Chỉ với vài nét chấm phá Nguyễn Bỉnh Khiêm đã “khéo” khen thiên nhiên đất Bắc rất hào phòng, đầy đủ thức ăn. Đặc biệt câu thơ “Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” phác họa vài đường nét nhẹ nhàng, đơn giản nhưng toát lên sự thanh tao không ai sánh được. Một cuộc sống dường như chỉ có tác giả và thiên nhiên, mối quan hệ tâm giao hòa hợp nhau.

    Nhãn quan tỏ tường và cái nhìn thông tuệ của nhà thơ thể hiện tập trung nhất ở hai câu thơ cuối. Nhà thơ tìm đến cái “say” là để “tỉnh” và ông tỉnh táo hơn bao giờ hết:    

 “Rượu đến cội cây ta sẽ uống 

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”

    Hai câu thơ này là triết lý và sự đúc rút của quan trạng trong thời gian ở ẩn. Đối với một con người tài hoa, có trí tuệ lớn như thế này thì thực sự phú quý không hề là giấc chiêm bao. Ông từng đỗ Trạng nguyên thì tiền bạc, của cải đối với ông thực ra mà nói không hề thiếu nhưng đó lại không phải là điều ông nghĩ đến và tham vọng. Với ông phú quý chỉ “tựa chiêm bao”, như một giấc mơ, khi tỉnh dậy thì sẽ tan, sẽ hết mà thôi. Có thể xem đây chính là cách nhìn nhận sâu sắc, đầy triết lý nhất. Với một con người thanh tao và ưa sống an nhàn thì phú quý chỉ như hư vô mà thôi, ông yêu nước nhưng yêu theo một cách thầm lặng nhất. Cách so sánh độc đáo đã mang đến cho hai câu kết một tứ thơ hoàn hảo nhất.

    Như vậy với tám câu thơ, bài thơ “Nhàn” đã khiến người đọc ngưỡng mộ và khâm phục cốt cách, tinh thần và phong thái của ông. Là một người yêu nước, thích sự thanh bình và coi trọng cốt cách xứng đáng là tấm gương đáng học hỏi. Bài thơ đường luật kết cấu chặt chẽ, tứ thơ đơn giản nhưng hàm ý sâu xa đã làm toát lên tâm hồn và cốt cách của ẩn sĩ. Có thể nói, cho đến bây giờ, phong thái sống của ông vẫn được rất nhiều người ngưỡng mộ.

Thông qua dàn ý và một số bài văn mẫu Dàn ý phân tích cái nhàn của người cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm qua bài thơ Nhàn tiêu biểu được THPT Ninh Châu tuyển chọn từ những bài viết xuất sắc của các bạn học sinh. Mong rằng các em sẽ có khoảng thời gian vui vẻ và hữu ích khi học môn Văn!

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 10,Ngữ Văn 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button