Lớp 11Ngữ Văn

Dàn ý cảm nhận đoạn trích Lẽ ghét thương

Tham khảo Dàn ý cảm nhận về đoạn trích Lẽ ghét thương, tổng hợp đầy đủ dàn ý chung và những bài văn cảm nhận ngắn gọn, chi tiết, hay nhất. Qua các bài văn mẫu sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về tác phẩm, cùng tham khảo nhé!

Dàn ý cảm nhận về đoạn trích Lẽ ghét thương – Mẫu số 1

Mở bài

Bạn đang xem: Dàn ý cảm nhận đoạn trích Lẽ ghét thương

– Trình bày những nét khái quát về tác giả Nguyễn Đình Chiểu và truyện thơ Truyện Lục Vân Tiên

Bài viết gần đây

– Trình bày những cảm nhận khái quát nhất của bản thân về đoạn trích Lẽ ghét thương: Nói lên những tình cảm yêu ghét rất phân minh, mãnh liệt và tấm lòng thương dân của Nguyễn Đình Chiểu

Thân bài

1. Cảm nhận về mối quan hệ giữa ghét và thương

– Mối quan hệ về lẽ yêu ghét được đúc kết ngay trong câu thứ 4 của đoạn trích:

   + “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”: cội nguồn sự ghét là lòng thương, thương là gốc ⇒ hai tình cảm đối lập nhưng thực chất là sự thống nhất, bổ sung, hỗ trợ cho nhau.

⇒ Đây cũng chính là tuyên ngôn về lẽ ghét thương của ông Quán

– Cuối đoạn trích, một lần nữa mối quan hệ khăng khít giữa lẽ ghét và thương lại trở lại:

    + “Nửa phần lại ghét nửa phần lại thương”: Càng yêu thương nhân dân, tiếc thương những người tài đức lại càng căm ghét những kẻ hại dân hại đời.

2. Cảm nhận về lẽ ghét

– Những điều ông Quán ghét: việc tầm phào, ghét Kiệt, Trụ mê dâm, đời U, Lệ đa đoan, ghét đời Ngũ Bá phân vân, đời thúc quý phân băng…

⇒ Thực chất: ghét vua chúa đắm say tửu sắc, tàn bạo bất nhân, ăn chơi hưởng lạc, không chăm lo đến đời sống của dân, để triều đại suy tàn.

    + “Ghét đời”: ghét cả một đời, một triều đại, một chính quyền, một xã hội

    + Điệp từ “ghét”: tăng sức mạnh cảm xúc

    + Điệp từ dân: Cơ sở lẽ ghét chính là yêu dâm, lo cho dân

⇒ Tác giả đã đứng về phía nhân dân, xuất phát từ quyền lợi của nhân dân để ghét. Cội nguồn của lẽ ghét chính là lẽ thương.

3. Cảm nhận về lẽ thương

– Khi bàn về lẽ ghét, ông Quán thường ghét cả một “đời”, khi bàn về lẽ thương, ông hướng vào những người cụ thể:

    + Thương là thương đức thánh nhân

    + Thương thầy Nhan tử dở dang

    + Thương ông Gia Cát tài lành

    + Thương thầy Đổng Tử cao xa

    + Thương người Nguyên Lượng ngùi

    + Thương ông Hàn Dũ chẳng may

    + Thương thầy Liêm, Lạc đã ra

– Điệp từ “thương”: nhấn mạnh tình cảm đối với những người vì dân vì nước, cả đời bôn ba xuôi ngược, vất vả nhưng sự nghiệp không thành.

⇒ Thương bằng tình cảm chân thành và niềm tiếc nuối.

4. Cảm nhận về hình tượng nhân vật ông Quán

– Đây là nhân vật phụ nhưng để lại ấn tượng sâu sắc bởi:

    + Ông Quán xuất hiện đầu đoạn trích cho cảm nhận: thông kinh sử, bộc trực, thẳng thắn, yêu ghét phân minh rõ ràng ⇒ Là biểu trưng cho tính cách Nam Bộ và tư tưởng nhà văn.

    + Thông qua những lời bàn về lẽ ghét và lẽ thương: tình cảm yêu ghét của ông Quán rõ ràng, dứt khoát, nồng nàn, mãnh liệt. Thương ghét đều chân thành, sắc nhọn mà mộc mạc bình dị ⇒ Tình cảm của con người miền Nam.

– Đây là nhân vật Nguyễn Đình Chiều gửi gắm tư tưởng, tình cảm của mình bởi bản thân ông là người nằm trong cảnh ngộ đáng để “thương”. Ngoài ra đó còn là sự đồng cảm, kính yêu những vĩ nhân và tiếc thương cho cuộc đời, số phận của bản thân mình.

Kết bài

– Khái quát những đặc sắc nghệ thuật làm nên thành công của đoạn trích nói riêng và tác phẩm Truyện Lục Vân Tiên nói chung: lời thơ mộc mạc, chân chất, đậm đà cảm xúc, sử dụng điển tích, điển cố…

– Liên hệ trình bày suy nghĩ bản thân về lẽ ghét thương trong xã hội hiện nay.

Dàn ý cảm nhận về đoạn trích Lẽ ghét thương – Mẫu số 2

Dàn ý cảm nhận đoạn trích Lẽ ghét thương ngắn gọn nhất (ảnh 2)

1. Mở bài

– Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Đình Chiểu

– Giới thiệu khái quát về đoạn trích Lẽ ghét thương

2. Thân bài

* Vài nét khái quát về tác phẩm:

– Xuất xứ: Lẽ ghét thương là đoạn trích nằm ở phần đầu của tập truyện thơ “Lục Vân Tiên”

– Nội dung chính: Cuộc gặp mặt, trò chuyện của ông Quán và bốn chàng nho sinh đi thi, qua đó thấy được lẽ ghét thương phân minh của nhân vật ông Quán (hay chính là hóa thân của tác giả)

* Cảm nhận về 4 câu thơ đầu: “Quán rằng… hay thương”

– Quan điểm của ông Quán – người đã trau dồi mài kinh sử cũng học và thi trước sự ngụy biện của hai tên Trịnh Hâm và Bùi Kiệm khi bị thua trong cuộc so tài: “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”

* Cảm nhận về 12 câu tiếp theo: “Tiên rằng… lằng nhằng dối dân”: Tầm hiểu biết sâu rộng của ông Quán khi ông bàn về “lẽ ghét”

– Ghét việc tầm phào: Những việc chẳng có nghĩa lí gì, chẳng đâu vào đâu

– Ông đưa ta điển cổ, điển tích để chứng minh:

+ Đời Kiệt, đời Trụ: Hoang dâm vô độ, không chăm lo cho nhân dân để dân rơi vào cuộc sống cùng cực

+ Đời U, đời Lệ: “đa đoan” lắm chuyện rắc rối khiến dân chúng không khỏi lầm than

– Nghệ thuật: Điệp từ “ghét” 8 lần, điệp từ “dân” 4 lần

=> Khẳng định “lẽ ghét” và tình yêu thương muôn dân của ông Quán hay cũng chính là của tác giả.

* Cảm nhận về 14 câu tiếp: “Thương là thương đức thánh nhân… đuổi về nhà giáo dân”

– Niềm thương xót của ông Quán cho những bậc hiền tài của đất nước:

+ Thánh nhân Khổng Tử lậ đận trong việc truyền đạo

+ Thầy Nhan Tử tài đức nhưng cuộc đời kết thúc quá sớm

+ Gia Cát Lượng, Đồng Tử, Hàn Dũ, thầy Liêm, Lạc đều là người tài giỏi, mưu trí, học cao hiểu rộng nhưng không gặp thời

– Nghệ thuật điệp từ, liệt kê thể hiện rõ tấm lòng yêu thương da diết đầy tính bác ái của tác giả đối với những người tài giỏi nhưng bạc mệnh.

* Cảm nhận về hai câu cuối bài thơ: “Xem qua… lại thương”

– Nửa phần “ghét” kết hợp với nửa phần “thương”: Thái độ dứt khoát của ông Quán

– Sự ghét – thương luôn tồn tại song song dù nó có trái ngược nhau nhưng đều bắt đầu từ “thương” – nguồn của tình cảm

3. Kết bài

– Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Lẽ ghét thương

– Nêu suy nghĩ, cảm xúc của bản thân. 

Cảm nhận về đoạn trích Lẽ ghét thương – Bài mẫu 1

   Nguyễn Đình Chiểu là ngôi sao sáng trên bầu trời văn học trung đại Việt Nam. Các sáng tác của ông đã thể hiện rõ quan điểm nghệ thuật:

                            Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm

                            Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà

   Đặc biệt vấn đề về đạo đức của con người được nhà thơ quan tâm và thể hiện ở nhiều góc độ. Và Lục Vân Tiên là tác phẩm tiêu biểu cho vấn đề này. Đó là điều cốt lõi, là khát vọng xây dựng mối quan hệ bè bạn giữa người với người. Trong hệ thống nhân vật lí tưởng của tác phẩm, ông Quán là một nhân vật hấp dẫn. Đó là một nhà Nho ở ẩn, thực chất cũng chính là bản thân Đồ Chiểu tự bộc bạch tình cảm của mình trước sự đời.

   Lục Vân Tiên không phải là tác phẩm đề cao trung, hiếu, tiết, hạnh mà là tác phẩm đề cao nhân nghĩa và phê phán tất cả những cái gì là bất nhân, bất nghĩa. Bao trùm tác phẩm là những tình cảm rất đẹp đẽ, hồn nhiên của những con người biết cứu giúp nhau trong hoạn nạn, yêu thương nhau lúc khó khăn, những con người sống chí tình chi nghĩa. Ngòi bút của nhà thơ bao giờ cùng sôi nổi, tràn đầy yêu thương. Viết Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu như có ý muôn nêu lên những tấm gương về luân lí đạo đức. Mà nói đến đạo đức phong kiến thì đều cơ bản là ái quốc. Trung quân là trung với nước, với lẽ phải, với lương tri con người.

   Đoạn trích Lẽ ghét thương trong Lục Vân Tiên gồm hai mươi sáu câu thơ lục bát, là lời của ông Quán. Trong lời ông Quán ta thấy rõ tư tưởng trung quân của Nguyễn Đình Chiểu trước hết không phải xuất phát từ vua mà từ dân, từ lợi ích của dân. Nhà thơ thấy chỉ có thể trung với những ông vua tốt, biết chăm lo cho dân, chứ đối với những tên vua xấu, vua ác làm hại dân, gây đau khổ cho dân thì ông lên án gay gắt. Bởi vậy cái ghét, tình thương của ông xuất phát từ một tấm lòng yêu thương sâu xa nồng thắm:

                            Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương

   Lẽ ghét thương là những lời tâm huyết về nỗi ghét, tình thương nhân bản của Nguyễn Đình Chiểu. Trong đoạn trích nói về lẽ ghét thương có hai sáu mươi câu thơ trong đó có mười câu nói về lẽ ghét, mười sáu câu nói về tình thương, về lẽ thương (dài gần gấp đôi so với lời nói về ghét). Ta thấy căn nguyên, gốc rễ của cái ghét: ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm, những cái tầm phào, những cái đa đoan, những cái dối trá, những cái mê dâm là vì chúng làm dối dân, làm dân nhọc nhằn, dân luống chịu lầm than muôn phần, làm dân đến nỗi sa hầm sẩy hang. Như vậy căn nguyên của cái ghét là bởi vì tình thương sâu sắc đỗi với người dân. Những kẻ có quyền, có ô lọng đã lợi dụng chỗ dựa để lừa gạt, làm hại dân.. Thực ra là những ông vua bạo ngược, những kẻ kéo bè kéo phái gây chiến tranh hại dân… đời Kiệt, Trụ; đời U, Lệ; đời Ngũ Bá, đời Thúc, Quý.

   Trong số mười câu thơ nói về lẽ ghét thì bốn câu có từ dân nói về nỗi khổ của dân:

                            Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.

                            Khiển dân luống chịu lầm than muôn phần.

                            Chuộng bề dối trá làm dân nhọc nhằn.

                            Sớm đâu tối đánh lằng nhằng dối dân.

   Nỗi ghét được giãi bày sâu đậm, cao độ. Bằng việc sử dụng điệp từ ghét trong câu thơ tám tiếng:

                            Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.

   Đã diễn tả thái độ căm thù, khinh bỉ cực sâu. Đặc biệt nghệ thuật tăng cấp: cay – đắng – vào tận tâm tả cụ thể màu sắc, mùi vị và độ sâu tăng dần của cái ghét: Từ cái ghét có vị cay, sang cái ghét có vị đắng, đến cái ghét có độ sâu của lòng người: ghét vào tận tâm. Như vậy, nhà thơ đã vận dụng quy luật chuyển đổi cảm giác: Từ vị giác (cay – đắng kết hợp với từ ghét tạo nên một thứ cảm xúc đặc biệt: ghét cay, ghét đắng, đến ghét vào tận tâm. Với cách diễn đạt tăng cấp này, Nguyễn Đình Chiểu cho thấy cái ghét của ông Quán chính là lòng căm cao độ, sâu cay. Ông căm thù tất cả những kẻ làm tổn hại đến cuộc sống, hạnh phúc của nhân dân. Chính điều này đã thể hiện rõ tính nhân dân sâu sắc của thơ Đồ Chiểu).

   Từ lẽ ghét, ông Quán bộc lộ tình thương bao la. Lời tự bạch của ông qua mười sáu câu thơ đã tỏ rõ thái độ kính yêu, trân trọng và tấm lòng cảm thương sâu sắc với những bậc hiền tài, đức hạnh, những người làm việc giúp dân. Mở đầu là ông nói tình thương của mình đối với Khổng Tử vất vả, gian lao trong công việc truyền đạo Nho:

                            Thương là thương đức thánh nhân

                            Khi nơi Tống, Vệ, lúc Trần, lúc Khuông.

   Sau đó ông bộc lộ tình thương với thầy Nhan Tử, với Gia Cát, Đổng Tử, Nguyên Lượng, Hàn Dũ, Liêm, Lạc. Đó là những hiền nhân, quân tử, kiểu mẫu của đạo Nho, muốn hành đạo giúp vua cứu đời, cứu dân nhưng rút cục là gặp bất hạnh hoặc chết yểu, hoặc không được vua tin dùng… mơ ước và nguyện vọng hành đạo, cứu đời, cứu dân của họ không thành. Như vậy tình thương của ông Quán với những bậc quân tử cuối cùng cũng bởi tình thương dân, vì thương dân mà thương những người bị thất bại trong việc cứu giúp dân.

   Nếu đoạn thơ mười câu nói về lẽ ghét của ông Quán thì ở đoạn thơ mười sáu câu ông Quán lại bộc lộ lòng thương yêu trực tiếp đối với những người có tài cao chí lớn, muốn cứu đời, giúp dân… mà gặp rủi ro bất trắc nên nguyện vọng cứu đời, cứu dân không thực hiện được trọn vẹn.

   Đoạn thơ mười sáu câu đã thể hiện rõ tính chất bác ái, nhân bản bao la, vẫn là nghệ thuật điệp từ thương lặp lại 9 lần với những cặp câu đối xứng hài hòa. Đặc biệt, mở đầu đoạn thơ nhà thơ dùng hai từ thương: Thương là thương đức thánh nhân. Từ thương lặp lại nhiều lần đã biểu hiện niềm yêu thương tha thiết của ông Quán đối với Khổng Tử khi gặp gian nan, vất vả trên đường hành đạo.

   Lòng thương của ông Quán rộng lớn bao la, thương cả những người chết yểu khi công danh còn dang dở:

                            Thương thầy Nhan Tử dở dang

                            Ba mươi mốt tuổi tách đàng công danh.

  Thương cả những người không gặp may trên đường đời:

                            Thương ông Gia Cát tài lành

                            Gặp cơn Hán mạt đã đành phui pha.

   Và cả những người bị oan khiên bị giáng chức, ngồi tù: Đổng Tử, Nguyên Lượng…

   Từ tình thương những người cụ thể, ông Quán bộc lộ tình thương đến số phận cay đắng của con người trước những quy luật khắc nghiệt của tạo hóa và xã hội. Đó cũng chính là tình cảm gắn bó máu thịt với nhân dân mà cốt lõi là mong cho dân tộc được hạnh phúc, bình an.

   Đoạn trích có bố cục chặt chẽ, mạch lạc và lô-gích. Có câu mở đầu nói về nỗi ghét:

                            Quán rằng: Ghét việc tầm phào

                            Ghét cay, ghét dắng, ghét vào tận tâm.

   Đối lập lại là những câu nói về tình thương và cũng có câu mở đầu:

                            Thương là thương đức thánh nhân

   Kết cho cả hai đoạn là câu nói về cả ghét – thương:

                            Xem qua kinh sử mấy lần

                            Nửa phần lại ghét, nửa phần lại thương.

   Những điệp từ ghét – thương trong các ý nhỏ vừa tách biệt, vừa liên kết các ý đã làm cho đoạn thơ liền mạch, chặt chẽ… tạo nên giọng thơ vừa trang nghiêm, vừa thống thiết xót xa.

   Thông qua lời ông Quán, Nguyền Đình Chiểu đã giãi bày tâm huyết của mình về lẽ ghét, tình thương với con người. Lời giãi bày đó thể hiện được quan điểm đạo đức yêu – ghét trước cuộc đời mà xuất phát của tình cảm đó là bởi vì cuộc sống của nhân dân. Bởi vậy có thế khẳng định tư tưởng cốt lõi của đoạn trích là ở tấm lòng yêu thương nhân dân sâu sắc, tha thiết của nhà thơ.

Thông qua dàn ý và một số bài văn mẫu Dàn ý cảm nhận đoạn trích Lẽ ghét thương tiêu biểu được THPT Ninh Châu tuyển chọn từ những bài viết  xuất sắc của các bạn học sinh. Mong rằng các em sẽ có khoảng thời gian vui vẻ và hữu ích khi học môn Văn!

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button