Giới thiệu về Trường THPT Chuyên Sư Phạm Hà Nội

Lịch sử phát triển Trường THPT Chuyên Sư Phạm Hà Nội

Từ lớp học đầu tiên với 31 học sinh ở các vùng quê khác nhau được tuyển vào lớp chuyên Toán sơ tán tại Phủ Cừ, Hưng Yên cho đến nay, khối phổ thông chuyên Toán – Tin ĐHSP Hà Nội đã tròn 35 năm xây dựng và phát triển.

Đã có 1.100 học sinh tốt nghiệp ra trường, đã có nhiều học sinh trưởng thành hiện đã và đang là những cán bộ có năng lực và tài năng cho Toán học, Tin học và những ngành khoa học kỹ thuật khác.

Chỉ tính trong 12 khóa đào tạo đầu tiên đã có 80 Phó tiến sĩ, 10 Tiến sĩ, 5 Phó giáo sư vốn là học sinh của khối chuyên Toán – Tin ĐHSP.

Rồi những giải thưởng thi học sinh giỏi quốc gia, 27 giải đoạt được qua các kỳ thi Toán quốc tế, một số giải thưởng thi quốc gia và quốc tế về Tin học…. đã làm đẹp, làm dày thêm truyền thống của khối. Những con số biết nói đó làm chúng ta thêm tự hào.

Ở bài viết này, tôi muốn nói tới một khía cạnh khác những mong gợi thêm một nét đẹp truyền thống của khối Phổ thông chuyên Toán – Tin ĐHSP Hà Nội. Tôi tạm gọi đó là “tính cách truyền thống” của học sinh khối ta.

Nhớ lại để thấy rằng: gần 10 năm đầu, thầy và trò khối ta phải sống, dạy và học trong chiến tranh.

Giặc Mỹ ném bom, bắn phá ác liệt. Năm 1966, sơ tán ở Phủ Cừ – Hưng Yên ít lâu, thầy và trò qua sông Hồng “hành quân” về một vùng quê ven sông Đáy, trú tại thôn Viện thuộc ứng Hoà tỉnh Hà Tây.

Năm 1972, giặc Mỹ leo thang dùng máy bay B52 đánh bom huỷ diệt, lệnh cấp tán. Thầy và trò lại vượt sông Hồng lên sơ tán tại Yên Lạc – Vĩnh Phúc.

Tôi cứ nghĩ mà thương cho ngày trực trường vào khối chuyên Toán ĐHSP Hà Nội của các em học sinh khoá đầu tiên. Tàu xe lăn lộn, chắc vất vả lắm 31 học sinh nam nữ đều nhỏ tuổi mới lần tìm ra nơi sơ tán ở Phủ Cừ?
Nhưng lại càng lo và thương hơn cho ngày nhập học của học sinh khóa 6 khi giặc Mỹ đang bắt đầu đánh bom B52 vào Hà Nội tháng 12 năm 1972.

Cả khối đã sơ tán lên thôn Hoa Đà, Yên Lạc, Vĩnh Phú chỉ còn chờ 30 em lớp 8 (nay gọi là lớp 10) vì tình thế nhập trường muộn.

Đâu có phương tiện liên lạc bằng điện thoại như bây giờ. Chỉ được báo rằng: đúng ngày giờ, trường Đại học Sư phạm chuyên chở các em bằng ô tô từ Cầu Giấy lên nơi sơ tán.

Suốt một ngày nóng lòng chờ đợi mà không thấy đâu? Nỗi lo lắng hiện lên trên những khuôn mặt các thầy và các em học sinh khóa 4 – khóa lớn nhất trong khối lúc bấy giờ.

Mãi quá 8 giờ tối, ô tô mới lên tới nơi. Thì ra đê bảo đảm an toàn xe phải đi vòng, lúc đi lúc dừng. Xe dừng ở đầu làng thì vang lên kẻng báo động. Trên bầu trời tối mịt đã ầm ì tiếng máy bay B52 giặc Mỹ. Và mươi phút sau rực lên chớp lửa và tiếng bom rền ở bầu trời Hà Nội phía xa.

Trong ảnh lửa nhập nhoạng của bom đạn ấy các thầy đón từng em học sinh nhỏ bé xuống xe. Kiểm đủ 30 năm, mới thở phào nhẹ nhõm…
Những năm sơ tán, ở nhờ nhà dân, ăn cơm tập thể loáng thoáng canh rau, lưa thưa chất đạm thế mà vẫn vui. Lớp học vách tre, mái lá bìa làng, giao thông hào xẻ vào giữa lớp, lúc “cấp tán” thì mượn thêm chùa, nhà kho học tác xã, thầy đứng, trò ngồi xuống đất mà giảng bài, mà ghi chép. Thế mà đầy háo hức.

Đêm đến, những ngọn đèn dầu ánh sáng thu nhỏ đủ soi một trang sách mà thắp mãi những ước mơ cháy bỏng.
Nâng niu từng mầm xanh mới nẩy, từng nụ hoa mới chớm nhưng không nương nhẹ những yêu cầu cao của một vườn ươm các tài năng tương lai. Ngay từ buổi đầu, khối chủ trương giáo dục toàn diện để từ đó phát hiện và bồi dưỡng những tài năng tương lai, không chỉ kiến thức mà vun đắp tâm hồn, vốn sống và bước đầu tạo bản lĩnh cho từng học sinh.

Từ chiếc nôi ấy, vườn ươm ấy đã tạo nên truyền thống đẹp.

ở kỳ thi tốt nghiệp phổ thông năm học 1968 – 1969, học sinh khóa đầu khối chuyên Toán Đại học Sư phạm đã làm xôn xao hội đồng chấm thi về kết quả xuất sắc.

Các môn Toán, Lý, Hóa thì khỏi phải nói – đó là chỗ mạh của “con nhà nòi” – mà đến môn Văn cũng giỏi. Lúc đó còn chấm thi theo thang điểm Liên Xô (Từ điểm 1 đến điểm bậc 5), học sinh chuyên Toán chúng ta đã đạt hầu hết các điểm 4 và điểm 5 (nghĩa là khá và giỏi) của hội đồng.

Đặc biệt năm đó có em Hồ Tú Bảo được đi thi học sinh giỏi cả môn Toán lẫn môn Văn. Có lẽ cho đến bây giờ, đó là trường hợp hy hữu của khối ta.

Đi thi giỏi Toán thì tất nhiên rồi. Còn môn Văn thi là chuyện tình cờ, Hồ Tú Bảo học Văn tốt, thích làm thơ. Khối ta đăng ký cho Bảo thi tử cùng các em học sinh giỏi Văn tỉnh Hà Tây. Ai ngờ Hồ Tú Bảo đạt điểm cao nhất. Thế là Bảo đứng đầu danh sách đội tuyển Văn tỉnh Hà Tây đi thi toàn quốc.

Vì trường hợp đặc biệt nên khi các bạn trong đội tuyển Toán thi ở nhà thì Hồ Tú Bảo cùng thầy Cao Sơn đạp xe lên thi ở hội đồng thi Phúc Thọ thuộc Hà Tây để hôm trước thi Văn, hôm sau thi Toán. Dẫu vất vả nhưn mà vui lắm.

Đến khóa thứ 4 lại có thêm một “kỷ lục mới”: em Nguyễn Hải Thanh đi thi tốt nghiệp đạt 39 điểm của 4 môn thi. Trong đó Toán và Văn đều đạt điểm 10. Kỷ lục 10 điểm Văn trong khối ta cho đến nay chưa bị phá!
Thế rồi đến khóa 28 em Vũ Thu Trang đã thi đỗ vào khoa Văn ĐHSP có học bổng và suốt 4 nă là 1 lớp trưởng có uy tín giữ được học bổng 4 năm liền, lại còn làm luận văn, đỗ tốt nghiệp loại khá.

Học sinh chuyên Toán – Tin ĐHSP còn có truyền thống đá bóng hay và ham thích làm thơ.

Chả thế mà dân mê sân cỏ ở Đại học Sư phạm đã gọi yêu là các cầu thủ toán “con”. Em Vượng đã là thủ môn của đội tuyển trường Đại học Sư phạm của một mùa giải thi đấu xuất sắc. Em Việt, em Phúc là những tiền đạo vào loại hay nhất của trường.

Còn thơ thì cũng không kém cạnh gì. Tôi còn nhớ năm 1976, đã có một tờ báo dành cả một bài dài bình và trích dẫn những vần thơ của các em chuyên Toán Đại học Sư phạm. ít lâu sau, Đài tiếng nói Việt Nam cũng có một buổi giới thiệu về hồn thơ chuyên

Toán trong chương trình phát thanh văn nghệ.

Có lẽ thơ và toán không khác xa nhau cho những tâm hồn cần sức tuởng tượng và sáng tạo.
Mùa hè năm 1974, lần đầu tiện Việt Nam chúng ta cử học sinh đi thi toán quốc tế. Đội tuyển gồm 4 học sinh gồm có hai thuộc chuyên Toán Đại học Sư phạm là Vũ Đình Hoà và Tạ Hồng Quảng và hai em Hoàng Lê Minh, Nguyễn Hoàng Trung của Đại học Tổng hợp.

Kỳ thi tổ chức tại Éc – Phuốc (Cộng hoà Dân chủ Đức). Lần đầu tiên đi thi, lo lắng và hồi hộp lắm. Rất nhiều nước lần đầu dự thi thường trắng tay. Có nước tham gia hàng chục lần mà chưa có huy chương nào! Ta lại nghèo, lại sau bao năm chiến tranh.

Tin vui thật bất ngờ: Đoàn Việt Nam đứng thứ 4 với 1 giải nhất, 1 giải nhì, 2 giải ba. Trong đó Vũ Đình Hoà giải nhì và Tạ Hồng Quảng đoạt giải ba khiến bạn bè khâm phục.

Thành công của Vũ Đình Hoà và Tạ Hồng Quảng có thể coi là bước mở đầu cho truyền thống đi thi Toán và Tin quốc tế mf khối ta có được hôm nay?

Nhìn vào cuộc sống hàng ngày, dễ nhận ra sự khiêm tốn, giản dị ở học sinh khối chuyên Toán – Tin Đại học Sư phạm. Giản dị đến mộc mạc, trong sáng. Mọi điều diêm dúa, đua đòi đều bị đánh bật ra ngay. Có lẽ khi sống có mục đích, có ước mở đẹp thì con người sẽ rũ bỏ được những lề thói tầm thường.

Và đậm hơn, tôi muốn nói thêm ở đây là không ít học sinh khối ta sớm có nghị lực, có bản lĩnh.

Cuộc sống đôi khi không suôn sẻ, phải biết vượt lên bằng chính mình. Tôi tạm nhớ đâu ghi đấy ra đây vài “chân dung” trong rất nhiều chân dung “đáng quý, đáng yêu” ấy.

Năm 1969, sau khi ra trường, anh Hồ Tú Bảo vào học khoa Toán Đại học Sư phạm. Hết năm thứ nhất, Bảo xung phong đi bộ đội, đã từng là chiến đấu ở chiến trường đường 9, đã từng làm trinh sát vượt sông Thạch Hãn, được tặng thưởng Huân chương chiến công và kết nạp Đảng ngay trong chiến hào.

Bị thương, từ quân ngũ trở về anh Bảo thi đậu vào Đại học Bách khoa. Rồi bằng nghị lực phấn đấu, anh đã bảo vệ luận án Tiến sĩ tại nước Pháp.

Lại có trường hợp oái oăm như Phạm Ngọc ánh.

Anh Phạm Ngọc ánh là học sinh chuyên Toán khóa 3. Đi học là học sinh nhỏ tuổi nhất lớp. Hết lớp 10 (tức là lớp 12 hiện nay) mặc dầu đoạt giải toán quốc gia, tốt nghiệp và thi đại học vào loại giỏi nhưng chưa được đi học ở nước ngoài như các bạn vì chưa đủ 15 tuổi để kết nạp Đoàn. Mà lúc đó qui định phải là đoàn viên mới được đi học ở các nước Xã hội chủ nghĩa.

Thế là không nản chí, ở lại trong nước một năm vừa ôn tập vừa chờ đủ tuổi để vào Đoàn, năm sau ánh sang Hunggari học tập xuất sắc rồi trở thành một Tiến sĩ trẻ trong ngành Toán học.

Nhà văn Nguyễn Bá Học những năm đầu thế kỷ XX đã từng viết: “Đương đi khó ki phải vì ngăn sông cách núi mà chỉ khó vi lòng người ngại vượt núi, e sông”.

ở khóa thứ 2, rồi chuân chuyên rơi vào anh Đặng Hùng Thắng. Học giỏi, biết chơi đàn, từng đoạt giải Toán quốc gia. Vậy mà chỉ vì hoàn cảnh không thể đi học nước ngoài.

Các bạn cùng lớp lên đường, anh Thắng ở lại cặm cụi một năm vừa ôn tập vừa đi làm thêm để thi đậu vào Đại học Tổng hợp. Anh tự vượt lên hoàn cảnh để trở thành Tiến sĩ ngành Toán mà tuổi nhỏ mơ ước, trở thành cán bộ giảng dạy Đại học Tổng hợp.

Cũng trường hợp như anh Thắng là anh Đỗ Đức Thái. Thông minh, học giỏi, đi thi Toán quốc tế đoạt giải tại Rumani. Vậy mà cũng vì hoàn cảnh không thẻ sang nước ngoài như các bạn được.

Bằng nghị lực và bản lĩnh, anh Thái theo học Đại học Sư phạm, đỗ xuất sắc được giữ lại làm cán bộ giảng dạy kiên trì học tập và nghiên cứu khoa học để trở thành Tiến sĩ khoa học Toán học. Con đường vòng vèo hơn 10 năm. Thật nhẫn nại!

* * *

Hơn 30 năm đã trôi qua, nét đẹp truyền thống vẫn nối tiếp trong khối phổ thông chuyên Toán – Tin Đại học Sư phạm Hà Nội.

Thời gian sẽ còn trôi chảy, cái đẹp đọng lại sâu đậm nhất là vẻ đẹp tâm hồn, là truyền thống tính cách đã được vun đắp từ khối học phổ thông chuyên Toán – Tin Đại học Sư phạm thân thương này.

Ban giám hiệu nhà trường

Hiệu trưởng: TS. Vũ Văn Tiến

  • Phòng làm việc: Tầng 3 nhà D2
  • Điện thoại (cơ quan):
  • Email:  tienvm@hnue.edu.vn
  • Phụ trách: Chung.
Phó hiệu trưởng: TS. Phạm Sỹ Cường
  • Phòng làm việc: Tầng 3 nhà D2
  • Điện thoại (cơ quan):
  • Email: cuongps@hnue.edu.vn
  • Phụ trách: Chuyên môn.

Phó hiệu trưởng: ThS. Phạm Minh Phương

  • Phòng làm việc: Tầng 3 nhà D2
  • Điện thoại (cơ quan):
  • Email: phuongpm@hnue.edu.vn
  • Phụ trách: Cơ sở vật chất.
Các trưởng Ban phụ trách khối THPT Chuyên từ khi thành lập:
  • GS. Hoàng Chúng:  1966 – 1967
  • GS. Nguyễn Quốc Chinh: 1967 – 1969
  • Phan Văn Viện:  1969 – 1992
  • Nguyễn An Nghi: 1992 – 2002
  • Doãn Minh Cường: 2002 – 2005
  • PGS. TS Nguyễn Văn Bính: 2005 – 2007
  • TS Nguyễn Đức Hoàng: 2007 – 2019
  • TS Vũ Văn Tiến: 2020 – Nay

Mô hình giáo dục

Học sinh của Trường được chia thành những lớp theo các môn học: Toán học (2 lớp: Toán 1 và Toán 2), Văn học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học và Tiếng Anh (2 lớp: Anh1 và Anh 2) và 4 lớp cận chuyên.

Nhà trường đi tiên phong trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, tiến hành giảng dạy một số môn chuyên bằng tiếng Anh, đáp ứng tốt đề án ngoại ngữ 2020 của Bộ GD&ĐT, phấn đấu đến năm 2020 có 70% giáo viên của trường sử dụng thành thạo tiếng Anh phục vụ tốt cho công tác giảng dạy. Nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng phát triển năng lực học sinh, phù hợp với đặc thù học sinh năng khiếu. Bên cạnh chương trình học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, số tiết học môn chuyên được tăng cường, học sinh của nhà trường còn được học các chuyên đề chuyên sâu với các thầy cô có kinh nghiệm, được tham gia các hội thảo với các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực, được tạo điều kiện đi thực tế, xuống các khoa trong trường Đại học Sư phạm đề các em được thực hành, thí nghiệm, học tập thực tế… Nhà trường thường xuyên mời các giáo sư của Đại học Sư phạm, đại học Quốc gia, Viện Toán học … về nói chuyện, giảng bài, truyền cho các em lòng say mê, tình yêu với khoa học, định hướng cho các em phát triển trong tương lai. Chú trọng phát huy tính độc lập, khả năng tự học cho học sinh. Xây dựng thư viện với nhiều đầu sách tham khảo quý giá. Kết nối học sinh với cựu học sinh, các anh chị đi trước tiếp sức cho các em đi sau, truyền cho các em nhiệt huyết, hướng dẫn thậm chí dạy lại các em… Tổ chức trang thông tin nội bộ, khuyến khích học sinh viết bài, tập dượt nghiên cứu, sáng tạo…Tổ chức các buổi semina trong học sinh, tập dượt cho học sinh khả năng nghiên cứu khoa học, chủ động, sáng tạo, phát huy tốt nhất khả năng của mình. Trường xây dựng các kết hoạch từ ngắn hạn đến dài hạn cho mục tiêu phát triển của nhà trường. Liên kết với các khoa trong trường Đại học Sư phạm nhằm đa dạng hóa các hoạt động của học sinh, tận dụng đội ngũ các giáo sư, các nhà khoa học của trường Đại học Sư phạm. Thường xuyên mời các nhà khoa học, nhà chính trị, nhà hoạt động xã hội, nhà văn, nhà thơ… tới giao lưu nói chuyện với học sinh.

Danh hiệu thi đua

Năm Danh hiệu thi đua Số, ngày, tháng, năm của quyết định công nhận danh hiệu thi đua; cơ quan ban hành quyết định
2009 – 2010 Tập thể lao động xuất sắc Quyết định số 1421/QĐ-BGDĐT ngày 13/4/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2010 – 2011 Tập thể lao động xuất sắc Quyết định số 1528/QĐ-BGDĐT ngày 19/04/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2011 – 2012 Tập thể lao động xuất sắc Quyết định số 55/QĐ-BGDĐT ngày 04/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2012 – 2013 Tập thể lao động xuất sắc Quyết định số 5802/QĐ-BGDĐT ngày 10/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2013 – 2014 Tập thể lao động xuất sắc Quyết định số 5455/QĐ-BGDĐT ngày 18/11/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2014 – 2015 Tập thể lao động xuất sắc Quyết định số 5504/QĐ-BGDĐT ngày 11/11/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2015 – 2016 Cờ thi đua của Bộ Giáo dục và đào tạo

Tập thể lao động xuất sắc

Quyết định số 2187/QĐ-BGDĐT ngày 28/06/2016 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo

Quyết định số ………../QĐ-BGDĐT ngày ……………. của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Khen thưởng

Năm Hình thức khen thưởng Số, ngày, tháng, năm của quyết định khen thưởng; cơ quan ban hành quyết định
2011 Bằng khen Trung ương Đoàn

Bằng khen Bộ trưởng

Quyết định số 587/QĐKT-TWĐTN ngày 29/09/2011 của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

Quyết định số 5515/QĐ-BGDĐT ngày 07/11/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

2012 Bằng khen Bộ trưởng Quyết định số 4158/QĐ-BGDĐT ngày 05/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2013 Bằng khen Thủ tướng Chính phủ Quyết định số 2440/QĐ-TTg ngày 16/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ
2014 Bằng khen Trung ương Đoàn Quyết định số 393/QĐ-TWĐTN ngày 18/08/2014 của Ban Thường vụ Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
2015 Giấy khen

 

Bằng khen

Khen thưởng số 1461/TĐ-KT ngày 20/04/2015 của Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Quyết định số 5825/QĐ-BGDĐT ngày 27/11/2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trường được Nhà nước tặng thưởng 3 Huân chương Lao động:

  • Huân chương Lao động Hạng Ba năm 1986
  • Huân chương Lao động Hạng Nhì năm 1996
  • Huân chương Lao động Hạng Nhất năm 2001
  • Huân chương Lao động Hạng Nhất năm 2016

Chất lượng đào tạo

Ngoài các em đặc biệt xuất sắc, tham gia vào các đội tuyển học sinh giỏi và đạt giải trong các kì thi Quốc gia, Quốc tế, các học sinh còn lại của nhà trường đều đỗ vào các trường đại học, trong đó phần lớn đỗ vào các trường đại học thuộc tốp đầu. Nhiều học sinh đạt thủ khoa cả đầu vào và đầu ra. Nhiều học sinh nhận được học bổng toàn phần từ các trường đại học danh tiếng trên thế giới. Sau khi ra trường các em đều thành đạt, nhiều em giữ những vị trí chủ chốt của các đơn vị hay doanh nghiệp cả trong nước và ngoài nước. Nhiều học sinh của nhà trường đã trở thành những chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành có ảnh hưởng không chỉ trong nước mà còn trên quốc tế:

Cự học sinh Đoàn Xuân Hưng từng là đại sứ Việt Nam tại nhiều nước, từng giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Ngoại giao;

Tiến sỹ Toán học Nguyễn Đình Công, phó chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam;

GS. TSKH Lê Tự Cường, viện Toán học, có gần 60 công trình khoa học được công bố trên các tạp chí uy tín trong và ngoài nước. Ông hướng dẫn thành công 12 tiến sĩ, trong đó có nghiên cứu sinh nổi tiếng là giáo sư nữ toán học thứ hai của Việt Nam Lê Thị Thanh Nhàn, giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2016

GS. TSKH Hồ Tú Bảo, Viện Khoa học và Công nghệ Tiên tiến Nhật Bản (Jais), có nhiều công trình khoa học nổi tiếng thế giới, hướng dẫn thành công 20 Tiến sỹ và nhiều Thạc sỹ, có đóng góp rất lớn cho giáo dục Việt Nam, giáo sư thường xuyên về nước giảng dạy và tổ chức các hội thảo khoa học, hướng dẫn các NCS Việt Nam… Có nhiều công trình ứng dụng hiệu quả trong thực tế Việt Nam.

PGS. TSKH Vũ Đình Hòa, người đầu tiên đoạt huy chương bạc toán quốc tế năm 1974 của Việt Nam, là người thầy đã truyền tình yêu toán học từ thời thơ bé cho nhiều thế hệ học trò trong đó có GS. Ngô Bảo Châu, sau này giành giải thưởng danh giá nhất thế giới về toán. Sau này, ông có nhiều năm làm trưởng đoàn Việt Nam tại kỳ thi

Giáo sư Nguyễn Quang Diệu là người trẻ nhất trong số 34 nhà giáo trở thành Giáo sư từ năm 2011 (lúc đó 37 tuổi). Điều đặc biệt nhất, năm 2007, anh cũng là Phó giáo sư trẻ nhất trong đợt phong hàm.

Cựu học sinh Phạm Quang Vũ, hai lần giải Nhất Quốc gia môn Tin học, tốt nghiệp thủ khoa xuất sắc của ĐH Công nghệ Nanyang (NTU), Singapore. Vào tháng 10/2012, khi còn là sinh viên năm cuối, chàng trai nhận được lời mời ứng tuyển cho vị trí kỹ sư lập trình ở tập đoàn Microsoft, làm việc ở Seattle (Mỹ). Mức lương thỏa thuận là 180 triệu đồng mỗi tháng, mỗi năm tăng lương 20% đến 30%, chưa kể thưởng. Vũ trở thành nhân viên trẻ tuổi nhất được nhận khi Microsoft về NTU tuyển dụng.

Cơ sở vật chất

Hiện trường đã xây dựng được cơ ngơi khang trang với 40 phòng học, 2 phòng thực hành Tin học, một phòng học Tiếng Anh, 3 phòng thí nghiệm cho các môn: Lý, Hóa, Sinh với đầy đủ thiết bị cần thiết, một phòng đa phương tiện, 2 phòng chờ giáo viên, các phòng tổ Bộ môn, văn phòng Đoàn, phòng hành chính, phòng tài vụ …. Các phòng học được đầu tư trang thiết bị hiện đại phục vụ tốt nhất cho công tác giảng dạy: điều hoà, máy chiếu, loa đài….

Ngoài ra học sinh của Trường còn được sử dụng cơ sở vật chất chung của Đại học Sư phạm như: Các phòng thí nghiệm của các khoa (Vật lý, Hoá học, Sinh học,…) và các đội tuyển học sinh giỏi của nhà trường còn được sử dụng các phòng thí nghiệm hiện đại của Đại học Sư phạm phục vụ cho thi Olympic Quốc tế; thư viện với nhiều phòng đọc và nhiều đầu sách tham khảo quý giá; sân vận động được đầu tư hiện đại, kí túc xá cho học sinh ở ngoại tỉnh….

Back to top button