GDQPLớp 10

Hôn mê khác ngất ở điểm nào?

Câu hỏi: Hôn mê khác ngất ở điểm nào?

A. Nạn nhân mất tri giác, cảm giác 

B. Nạn nhân mất khả năng vận động 

Bạn đang xem: Hôn mê khác ngất ở điểm nào?

C. Tim, phổi và hệ bài tiết ngừng hoạt động 

D. Tim, phổi và hệ bài tiết vẫn còn hoạt động

Trả lời: 

Đáp án đúng: D. Tim, phổi và hệ bài tiết vẫn còn hoạt động

Hôn mê khác ngất ở điểm tim, phổi và hệ bài tiết vẫn còn hoạt động

Cùng THPT Ninh Châu tìm hiểu về vấn đề này nhé !

1. Hôn mê là gì?

– Hôn mê là tình trạng bất tỉnh kéo dài. Khi hôn mê, hai mắt của bệnh nhân luôn nhắm và không thể tự nhiên mở và cũng không thể mở khi có những kích thích, những tác động từ bên ngoài với nhiều cường độ khác nhau. Nói một cách khác, người bệnh bị mất khả năng thức tỉnh. Ngoài ra, bệnh nhân không nói được và cũng không hiểu được người khác nói gì, không vận động có định hướng. 

– Thời gian hôn mê kéo dài bao lâu là do tình trạng của người bệnh nặng hay nhẹ. Một số trường hợp tình trạng hôn mê có thể kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, cũng có những trường hợp kéo dài nhiều năm. Với những trường hợp nghiêm trọng, bệnh nhân có thể tỉnh dậy sau hôn mê nhưng sau đó chuyển sang sống thực vật, hoặc nặng hơn có thể dẫn đến tử vong. Điều này phụ thuộc vào nguyên nhân và mức độ tổn thương của hệ thần kinh. Một số biến chứng có thể gặp khi hôn mê chẳng hạn như đau áp lực, viêm phổi, nhiễm trùng tiết niệu,…

– Khi xảy ra hôn mê, người bệnh cần được cấp cứu kịp thời nếu không sẽ có nguy cơ tử vong cao. Một số dấu hiệu của tình trạng này bao gồm: Nhắm mắt, giảm phản xạ thân não, không có phản ứng với ánh sáng, không phản ứng với những kích thích từ bên ngoài, không hít thở thường xuyên. 

– Cách phân loại mức độ hôn mê định tính:

+ Ngủ gà: lay gọi kích thích thì bệnh nhân mở mắt, trả lời đúng. Tuy nhiên, khi ngưng lại, để yên lặng thì bệnh nhân nhanh chóng rơi vào giấc ngủ.

+ Lơ mơ: Bệnh nhân không có đáp ứng với các kích thích thích bằng lời nói hay sờ chạm thông thường mà chỉ có đáp ứng với kích thích đau nhưng đôi khi có thể không chính xác.

+ Hôn mê: Bệnh nhân hoàn toàn không có bất kỳ sự đáp ứng với mọi kích thích từ xung quanh.

+ Trạng thái thực vật: Bệnh nhân hoàn toàn không có nhận thức về các kích thích xung quanh.

– Cách phân loại mức độ hôn mê thành ba giai đoạn:

+ Hôn mê độ I: Bệnh nhân vẫn còn khả năng thức tỉnh hưng nhận thức và đáp ứng giảm nhiều. Khi bị tác động từ bên ngoài, chẳng hạn như kích thích đau, người bệnh chỉ nhăn mặt, phản xạ nuốt vẫn còn nhưng đáp ứng chậm. Có hiện tượng đái dầm do rối loạn cơ vòng, nhưng chưa có rối loạn hô hấp và rối loạn tim mạch. 

+ Hôn mê độ II: Bệnh nhân không trả lời, không mở mắt khi được gọi, lay người,… Mất phản xạ giác mạc, đại tiểu tiện không tự chủ, có thể tăng thân nhiệt, rối loạn nhịp thở, bệnh nhân có thể có triệu chứng co cứng,…

+ Hôn mê độ III: Đây là giai đoạn bệnh nhân đã rơi vào tình trạng hôn mê sâu, mất ý thức và gần như không đáp ứng được với mọi kích thích, đồng tử giãn và mất hết các phản xạ, tim đập yếu, giảm huyết áp, tiểu không tự chủ, có biểu hiện duỗi cứng mất não,…

2. Ngất là gì?

a) Khái niệm ngất là gì?

– Ngất hay còn gọi là ngất xỉu, là tình trạng mất ý thức thoáng qua do giảm tưới máu toàn não bộ, người bệnh thấy hoa mắt, chóng mặt, mắt tối sầm và sau đó không nhận thức được xung quanh. 

– Ngất là tình trạng chết tạm thời, nạn nhân mất tri giác, cảm giác và vận động, đồng thời tim, phổi và bài tiết ngừng hoạt động. 

– Cần phân biệt với hôn mê, mặc dù người hôn mê cũng mất tri giác, cảm giác và vận động, song tim, phổi, bài tiết vẫn còn hoạt động. 

– Có nhiều nguyên nhân gây ngất: cảm xúc quá mạnh, chấn thương nặng, mất máu nhiều, ngại (do thiếu oxi), người có bệnh tim, người bị say sóng, say nắng… 

b) Triệu chứng của ngất

– Nạn nhân tự nhiên thấy bồn chồn, khó chịu, mặt tái, mắt tối dần, chóng mặt, ù tai, ngã khuỵu xuống bất tỉnh. 

– Toàn thân toát mồ hôi, chân tay lạnh, da xanh tái. 

– Phổi có thể ngừng thở hoặc thở rất yếu. 

– Tim có thể ngừng đập hoặc đập rất yếu, huyết áp hạ. 

– Thường nạn nhân bao giờ cũng ngừng thở trước rồi ngừng tim sau. 

c) Cấp cứu ban đầu và đề phòng triệu chứng ngất

* Cấp cứu ban đầu 

– Đặt nạn nhân nằm ngay ngắn tại nơi thoáng khí, yên tĩnh, tránh tập trung đông người, kê gối (hoặc chăn, màn…) dưới vai cho đầu hơi ngửa ra sau. 

– Lau chùi đất, cát, đờm dãi (nếu có) ở mũi, miệng để khai thông đường thở. 

– Cởi cúc áo, quần, nới dây lưng để máu dễ lưu thông. 

– Xoa bóp lên cơ thể, tát vào má, giật tóc mai, nếu có điều kiện cho ngửi a-mô-ni-ắc, dấm, hoặc đốt bồ kết thổi nhẹ cho khói bay vào hai lỗ mũi để kích thích, nếu nạn nhân hắt hơi được sẽ tỉnh. 

– Nếu nạn nhân đã tỉnh, chân tay lạnh có thể dùng nước gừng tươi, nước tỏi hòa với rượu và nước lã đun sôi cho uống. 

– Nếu nạn nhân chưa tỉnh, nhanh chóng kiểm tra để phát hiện sớm dấu hiệu ngừng thở, ngừng tim như: 

+ Vỗ nhẹ vào người nêu nạn nhân không có phản ứng gì là mất tri giác, cảm giác và vận động. 

+ Áp má vào mũi, miệng nạn nhân, nhìn xuôi xuống ngực nếu thấy lồng ngực, bụng không phập phồng, tai mũi, miệng không có hơi ấp, có thể thở rất yếu hoặc đã ngừng thở. 

+ Bắt ngay mạch bẹn (hoặc mạch cảnh) không thấy mạch đập, có thể đã ngừng tim (thời gian kiểm tra không được kéo dài quá 1 phút). 

– Nếu xác định nạn nhân đã ngừng thở, ngừng tim, cần tiến hành ngay biện pháp: thổi ngạt và ép tim ngoài lồng ngực, cứ thổi ngạt 1 lần, ép tim 5 lần (nếu có 2 người làm) hoặc thổi ngạt 2 lần, ép tim 15 lần (nếu chỉ có 1 người làm), phải làm khẩn trương, liên tục, kiên trì, khi nào nạn nhân tự thở được, tim đập lại mới dừng. 

* Đề phòng 

– Phải bảo đảm an toàn, không để xảy ra tai nạn trong quá trình lao động, luyện tập. 

– Phải duy trì đều đặn chế độ làm việc, nghỉ ngơi, tránh làm việc căng thẳng, quá sức. 

– Phải rèn luyện sức khỏe thường xuyên, nên rèn luyện từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, tạo cho cơ thể có thêm khả năng thích ứng dần với mọi điều kiện của môi trường.

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 10,GDQP 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button