Lớp 12Sinh Học

Khái niệm thể dị hợp, cho ví dụ?

Câu hỏi: Khái niệm thể dị hợp? Cho ví dụ

Trả lời:

+ Thể dị hợp là cá thể mang 2 alen khác nhau thuộc cùng 1 gen (Aa)

Bạn đang xem: Khái niệm thể dị hợp, cho ví dụ?

+ Ví dụ:  (ví dụ Rr) được gọi là dị hợp tử

Cùng THPT Ninh Châu tìm hiểu dị hợp tử các em nhé!

1. Khái niệm dị hợp tử là gì ?

– Hetero có nghĩa là ‘khác nhau’ và hợp tử có nghĩa là ‘ có hợp tử của một loại xác định ‘. Vì vậy, chúng ta có thể giải thích điều đó bằng cách nói rằng khi cả hai alen có trên nhiễm sắc thể tương đồng cho một gen nhất định khác nhau.

2. Đặc điểm của dị hợp tử

a. Quy luật phân ly của Mende

Quá trình mà các alen được truyền được Gregor Mendel phát hiện và xây dựng thành công thức được gọi là quy luật phân ly Mendel . Bốn khái niệm chính của sự phân li gen bao gồm: (1) gen tồn tại ở nhiều dạng khác nhau (alen), (2) các alen bắt cặp được di truyền, (3) các alen phân li trong quá trình nguyên phân và hợp nhất khi thụ tinh, và (4) khi các alen dị hợp tử, một alen trội. Mendel đã phát hiện ra điều này thông qua việc nghiên cứu các đặc điểm khác nhau của cây đậu, một trong số đó là màu sắc của hạt. Gen quy định màu sắc hạt ở cây đậu Hà Lan tồn tại ở hai dạng. Có một dạng hoặc alen cho màu hạt vàng (Y) và một dạng khác cho màu hạt xanh (y). Một alen là trội và alen kia là lặn. Trong ví dụ này, alen cho hạt màu vàng là trội và alen cho hạt xanh là lặn. Vì sinh vật có hai alen cho mỗi tính trạng nên khi các alen của một cặp là dị hợp tử (Yy) thì tính trạng của alen trội được biểu hiện và tính trạng của alen lặn được biểu hiện.Hạt giống có cấu tạo di truyền (YY) hoặc (Yy) có màu vàng, trong khi hạt giống (yy) có màu xanh lục.

b. Tỷ lệ kiểu gen dị hợp tử

– Khi các sinh vật dị hợp tử về một số tính trạng sinh sản, tỷ lệ mong đợi của các tính trạng này có thể được dự đoán trong thế hệ con cái. Tỷ lệ kiểu gen dự kiến ​​(dựa trên cấu tạo di truyền) và kiểu hình (dựa trên các đặc điểm quan sát được) khác nhau tùy thuộc vào gen của bố mẹ. Lấy màu hoa làm tính trạng, alen quy định màu cánh hoa tím (P) là trội hoàn toàn so với tính trạng màu trắng (p). Trong phép lai đơn tính giữa các cây dị hợp về màu hoa tím (Pp), kiểu gen dự kiến ​​là (PP), (Pp) và (Pp).

  P p
P PP Pp
p Pp pp

– Tỉ lệ kiểu gen dự kiến ​​là 1: 2: 1. Một nửa số con cái sẽ là dị hợp tử (Pp), một phần tư sẽ là đồng hợp tử trội (PP), và một phần tư sẽ là đồng hợp tử lặn. Tỉ lệ kiểu hình là 3: 1. 3/4 đời con sẽ có hoa tím (PP, Pp) và 1/4 sẽ có hoa trắng (pp).

– Trong phép lai giữa cây bố mẹ dị hợp tử và cây mang gen lặn, kiểu gen dự kiến ​​quan sát được ở đời con sẽ là (Pp) và (pp). Tỉ lệ kiểu gen mong đợi là 1: 1.

  P p
p Pp pp
p Pp pp

– Một nửa số con cái sẽ là dị hợp tử (Pp) và một nửa sẽ là đồng hợp tử lặn (pp). Tỉ lệ kiểu hình cũng sẽ là 1: 1. Một nửa sẽ biểu hiện tính trạng hoa tím (Pp) và một nửa có hoa trắng (pp).

– Khi chưa biết kiểu gen, kiểu lai này được thực hiện như một phép lai kiểm tra. Vì cả sinh vật dị hợp tử (Pp) và sinh vật trội đồng hợp tử (PP) đều biểu hiện kiểu hình giống nhau (cánh hoa màu tím), nên việc thực hiện phép lai với cây mang tính trạng lặn (pp) cho tính trạng quan sát được (màu trắng) có thể được sử dụng để xác định kiểu hình của cây chưa biết. Nếu kiểu gen của cây chưa biết là dị hợp tử thì một nửa đời con sẽ mang tính trạng trội (màu tía), nửa còn lại sẽ mang tính trạng lặn (màu trắng). Nếu kiểu gen của cây chưa biết là đồng hợp tử trội (PP) thì tất cả đời con sẽ dị hợp tử (Pp) và có cánh hoa màu tím.

3. Ý nghĩa của dị hợp tử

Mang đến những cá thể không giống nhau, có nghĩa là cá thể dị hợp tử hiếm khi thuần chủng và sinh ra những đứa con có kiểu gen khác nhau.

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 12, Sinh Học 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button