Lịch SửLớp 10

Lịch sử loài người được hình thành khi | Lịch sử 10

Câu hỏi: Lịch sử loài người được hình thành khi

A. Con người biết săn bắn, hái lượm.

B. Con người biết sản xuất của cải vật chất.

Bạn đang xem: Lịch sử loài người được hình thành khi | Lịch sử 10

C. Con người tách mình khỏi thế giới loài vật.

D. Con người biết chế tạo ra công cụ lao động.

Lời giải:

Đáp án đúng: D. Con người biết chế tạo ra công cụ lao động.

Lịch sử xã hội loài người được hình thành khi con người biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động.

Hãy để THPT Ninh Châu cung cấp thêm những kiến thức bổ ích về lịch sử xã hội loài người cho các bạn để hiểu rõ hơn về  câu hỏi trên nhé!

Lịch sử thế giới (nhân loại)

Cụm từ: “Lịch sử thế giới” thông thường được nhắc đến là để ám chỉ lịch sử nhân loại hay lịch sử xã hội loài người, tính từ khi con người xuất hiện trên Trái đất này. Khái niệm này sẽ không bao gồm lịch sử Vũ trụ, lịch sử Trái Đất hay lịch sử tiến hóa của các sinh vật. Và theo quan điểm Mác xít thì lịch sử thế giới hay lịch sử xã hội loài người trải qua 5 thời kỳ lớn như sau: 

1. Thời tiền sử – cộng sản nguyên thủy 

– Xã hội nguyên thủy (hay còn gọi là công xã thị tộc) là giai đoạn đầu tiên và dài nhất trong lịch sử phát triển của loài người, từ khi có con người xuất hiện trên Trái Đất đến khi xã hội nguyên thuỷ chuyển đổi thành xã hội giai cấp và xuất hiện chế độ nhà nước.

[CHUẨN NHẤT] Lịch sử loài người được hình thành khi

– Cách ngày nay khoảng ba đến bốn triệu năm, một loài vượn đặc biệt đã chuyển biến thành người. Đây là một quá trình lâu dài và trải qua nhiều giai đoạn: Đầu tiên từ loài Vượn đặc biệt chuyển biến thành Vượn – Người, yếu tố vượn còn nhiều hơn. Từ Vượn – Người tiến hóa thành Người – Vượn, yếu tố người đã nhiều hơn. Từ Người vượn tiến lên thành Người tinh khôn Và cuối cùng từ Người tinh khôn tiến lên thành Người hiện đại Homo sapiens. 

– Nguyên nhân của tình trạng trì trệ đó là do sự phát triển hết sức thấp kém và chậm chạp của điều kiện lao động kiếm sống của con người. Gần như trong suốt quá trình phát triển của chế độ công xã nguyên thủy, nguyên liệu chủ yếu để chế tạo công cụ lao động là đá, một thứ nguyên liệu vừa cứng vừa giòn mà từ đó con người chỉ có thể chế tạo được những công cụ thô sơ nhất và muốn hoàn thiện nó cũng gặp rất nhiều khó khăn.

– Kỹ thuật ghè đẽo tiến tới kỹ thuật mài đá đòi hòi sự tích lũy kinh nghiệm hàng vạn năm. Do trình độ kỹ thuật còn thấp kém, người nguyên thủy phải hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên. Hoàn cảnh đã bắt buộc họ phải liên kết với nhau trong lao động tập thể và trong đấu tranh sinh tồn.

Do đó, trong xã hội nguyên thủy không có chiếm hữu tư nhân, không xó người bóc lột và không có bộ máy chính quyền dưới bất cứ hình thức nào. Đó là một xã hội chưa có giai cấp, chưa có nhà nước nên được gọi là chế độ công xã nguyên thủy.

2. Thời cổ đại – Xã hội chiếm hữu nô lệ 

– Chi tiết: Lịch sử thời kỳ chiếm hữu nô lệ Xã hội chiếm hữu nô lệ xuất hiện ở phương Đông sớm nhất, khoảng 3000 năm trước công nguyên ở các nước Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Trung Quốc và nhiều quốc gia khác, ở châu Âu xã hội này xuất hiện muộn hơn. Xã hội chiếm hữu nô lệ Hy Lạp ra đời khoảng thế kỷ thứ VIII trước công nguyên, ở La Mã vào thế kỷ thứ VI trước công nguyên và kết thúc vào thế kỷ thứ V sau công nguyên khi đế quốc Tây La Mã sụp đổ. 

– “Xã hội chiếm hữu nô lệ” là một xã hội có 2 giai cấp cơ bản là chủ nô và nô lệ, trong đó, chủ nô là giai cấp thống trị,có quyền lực kinh tế, sở hữu rất nhiều nô lệ; nô lệ là giai cấp bị trị, là lực lượng lao động chính trong xã hội, hoàn toàn lệ thuộc vào chủ nô.

– Xã hội chiếm hữu nô lệ chia thành ba giai cấp chính: Thứ nhất, giai cấp chủ nô quý tộc là giai cấp thống trị áp bức bóc lột vì chúng chiếm giữ được tư liệu sản xuất. Thứ hai, giai cấp nông dân công xã nông thôn và tầng lớp thị dân thành thị, ở Hy Lạp, La Mã tầng lớp này được gọi là bình dân. Nông dân và, thị dân có tài sản, có gia đình riêng nhưng bị nhà nước chủ nô bóc lột, khi phá sản có thể rơi xuống địa vị nô lệ. Thứ ba, giai cấp nô lệ, nguồn chủ yếu từ các bộ lạc bại trận trong chiến tranh, không cùng huyết thống với giai cấp chủ nô, bị kẻ chiến thắng tước đoạt tài sản, ruộng đất, còn bản thân bị biến thành nô lệ. 

3. Thời kỳ trung đại – xã hội phong kiến (476-1640) 

Chi tiết: Lịch sử thời kỳ xã hội phong kiến Chế độ phong kiến có nghĩa là một chế độ được hình thành nên bởi sự phân phong ruộng đất. Quá trình phong kiến hóa diễn ra và được xác lập sớm nhất ở Trung Quốc. Ngay từ thời Chiến quốc khi sáu nước Hàn, Sở, Ngụy, Yên, Tề vẫn duy trì xã hội nô lệ thì nước Tần vì muốn hùng mạnh đã đi theo luận thuyết cải cách của Thương Ưởng giải thể chế độ nô lệ, thực hiện chế độ phong kiến tiến bộ hơn. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm nên sức mạnh của nước Tần đánh bại sáu nước, thống nhất Trung Quốc vào năm 221 trước công nguyên. Kết thúc cục diện chiến quốc, lập ra nhà Tần thống trị trên toàn cõi Trung Quốc. Với nhà Tần, chế độ phong kiến Trung Quốc bắt đầu. Tần Thủy Hoàng vị “vua phong kiến” đầu tiên Trước và sau đầu công nguyên các nước châu Á đều lần lượt bước sang xã hội phong kiến. Ở Tây Âu, xã hội phong kiến được xác lập sau khi đế quốc Tây La Mã sụp đổ vào năm 476. 

4. Thời kỳ cận đại – xã hội tư bản chủ nghĩa (1640-1917) 

– Cận đại là thuật từ được dùng để chỉ thời kỳ lịch sử tiếp nối thời trung đại, có liên quan tới thời hiện đại. Trong tiếng Việt, thuật từ này theo nghĩa hẹp chỉ tương ứng với “hậu kỳ cận đại” (late modern period) bắt đầu vào giữa thế kỷ 18, hoặc hẹp hơn nữa bắt đầu vào khoảng năm 1900; theo nghĩa rộng thuật từ này còn bao gồm cả “sơ kỳ cận đại” (early modern period) bắt đầu vào khoảng năm 1500 hoặc trước đó vài thập kỷ, diễn ra những sự kiện như nghệ thuật Phục Hưng phổ biến rộng khắp châu Âu, Đế quốc Byzantine sụp đổ và Thời đại Khám phá. Thời kỳ cận đại gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, những tiến bộ công nghệ và các cuộc cách mạng.

– Chi tiết: Lịch sử thời kỳ tư bản chủ nghĩa Chế độ phong kiến thế giới suy tàn vào thế kỷ thứ XV-XVI. Năm 1506-1609, cuộc cách mạng tư sản Hà Lan thắng lợi lật đổ ách thống trị của Tây Ban Nha, thành lập nhà nước tư sản đầu tiên trên thế giới. Cách mạng Hà Lan đã báo hiệu một thời đại mới, thời đại của các cuộc cách mạng tư sản. Năm 1640, cách mạng tư sản Anh thắng lợi đã mở đầu cho thời kỳ lịch sử cận đại toàn thế giới, tức là mở đầu cho một thời đại mới mà nội dung là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản. Một thời đại mới được mở ra, trong đó diễn ra các cuộc đấu tranh giai cấp trên toàn thế giới giữa phong kiến và tư sản xem ai thắng ai. Thời đại giai cấp tư sản lật đổ chính quyền phong kiến giành lấy quyền thống trị chính trị, thiết lập những nhà nước tư sản mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển. Cuối cùng vào những năm 80 của thế kỷ XIX chế độ phong kiến bị lật đổ ở châu Âu, Bắc Mỹ, ở Nhật Bản (châu Á), chủ nghĩa tư bản được xác lập trên phạm vi rộng lớn, trở thành một hệ thống chính trị kinh tế trên thế giới. Các cường quốc tư bản phương Tây đã tiến hành xâm lược các nước Á, Phi, thiết lập nên hệ thống thuộc địa rộng lớn vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Toàn thế giới bị lôi cuốn vào quỹ đạo kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản. 

5. Thời kỳ hiện đại (1917 đến nay) 

Lịch sử thế giới hiện đại (1917 – 1945) bao gồm những nội dung chính sau:

a. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga (1917) thắng lợi, lần đầu tiên chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực ở một nước, mở ra thời kì mới trong lịch sử của nhân loại: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

b. Cao trào cách mạng 1918 – 1923 có bước chuyển biến mới: giai cấp công nhân trưởng thành, nhiều Đảng Cộng sản ra đời. Trên cơ sở đó, Quốc tế Cộng sản được thành lập, lãnh đạo phong trào cách mạng đi theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa.

c. Phong trào độc lập dân tộc ở các nước thuộc địa và phụ thuộc là đòn tấn công và tư bản chủ nghĩa, trong phong trào đó, giai cấp vô sản trưởng thành và tham gia lãnh đạo phong trào.

d. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 – 1933 đã dẫn đến hậu quả là chủ nghĩa phát xít thắng thế và đẩy nhân loại đứng trước nguy cơ một cuộc chiến tranh mới.

e. Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) là cuộc chiến tranh gây ra những tổn thất khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại, kết thúc một thời kì phát triển của lịch sử thế giới hiện đại.

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 10, Lịch sử 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button