Lớp 12Ngữ Văn

Lý luận văn học về sự sáng tạo

Đề bài: Lý luận văn học về sự sáng tạo

1. Chứng minh: Sự sáng tạo của người nghệ sĩ là sức sống của thơ ca

    Sáng tạo là kết quả của quá trình dấn thân, nhập cuộc, tích lũy, hun đúc, một tiến trình cọ xát dữ dội. Sáng tạo không có nghĩa là bịa đặt. Sáng tạo nghệ thuật giống như sáng tạo cuộc sống, cần có yếu tố thẩm mỹ, tính chân thực cao, có khả năng tác động mạnh mẽ vào nhận thức của người đọc. Chính nỗ lực sáng tạo của người nghệ sĩ là sức sống của thơ ca.

    Bản chất của lao động nghệ thuật là sáng tạo, một sự lao động miệt mài không ngừng nghỉ. Văn chương sẽ ra sao nếu tác phẩm này là bản sao của tác phẩm kia? Nếu mỗi người nghệ sĩ đều bằng lòng với những điều có sẵn? Câu chữ mòn sáo, lời văn đơn điệu, quen nhàm? Ấy là cái chết của nghệ thuật, cái chết của người nghệ sĩ trong mỗi nhà văn. Bởi “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những ai biết đào sâu, tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Nam Cao).

Bạn đang xem: Lý luận văn học về sự sáng tạo

    Nếu không có sự góc nhìn khác, suy nghĩ khác, không sáng tạo trong cách xây dựng cốt truyện, cuộc đời, số phận, tính cách nhạn vật, thì các nhân vật như lão Hạc, Chí Phèo, Bá Kiến,… trong tác phẩm của Nam Cao cũng sẽ bị thời gian phủ lấp, bởi nó na ná các nhân vật khác, không để lại ấn tượng gì. Nếu không có tấm lòng nhân đạo cao cả, có cái nhìn thấu suốt cuộc đời và nếu thiếu bản lĩnh văn chương thì có lẽ Nguyễn Du đã để cho nhân vật Thúy Kiều dẫm vào vết xe đổ của các “yêu cơ” từng có trước đó rồi.

    Khi tìm đến yêu cầu sáng tạo đối với nghệ thuật, đã có người băn khoăn tự hỏi: Văn học cùng bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, vậy tại sao không có sự gặp gỡ, trùng lặp? Thật vậy, cuộc đời là lạch ngầm nơi dòng sông văn chương bắt nước. Thế nhưng hiện thực ấy được chảy qua bầu cảm xúc mãnh liệt của mỗi nhà thơ, nhà văn. Mỗi người nghệ sĩ là một tiểu vũ trụ, tác phẩm văn học là sự phản ánh tiểu vũ trụ ấy. Vì vậy, không có những tác phẩm “song sinh” dù tâm hồn anh cùng đồng diệu, tri kỷ với tâm hồn tôi.

    Mặt khác, người đọc tìm đến với văn học nói chung, thơ ca nói riêng để đắm mình trong vẻ đẹp của sự sáng tạo. Có ai yêu những áng thơ mòn cũ, quen nhàm; có ai nhớ những vần điệu nhạt nhẽo, sáo rỗng. Không đi theo con đường sáng tạo, nhà thơ sẽ chỉ còn lại một mình giữa sự thờ ơ, quên lãng của người đọc. Như thế, cuộc đời cầm bút của người nghệ sĩ trở nên vô nghĩa. Bởi “điều còn lại đối với mỗi nhà văn chính là cái giọng nói riêng của mình”. Yêu cầu về sáng tạo ấy gợi nhắc trong lòng người đọc nỗi nhớ khôn nguôi về những nhà thơ đã dành trọn cuộc đời mình cho văn chương, nghệ thuật.

    Đặc trưng trong giọng văn của Nam Cao là lạnh lùng, sắc bén nhưng chứa đựng tình cảm lớn lao. Thanh Tịnh lại chọn một giọng kể nhẹ nhàng, đằm thắm, êm êm như làn sương, ngọn gió len lỏi vào lòng người đọc. Vũ trọng Phụng lại có cái giọng châm biếm sâu cay vô cùng đặc trưng. Mỗi nhà văn một giọng điệu, một cách kể, không thể nhầm lẫn được.

    Nếu nhà văn, nhà thơ chỉ biết hát chung khúc hát, không có giọng điệu riêng, ấn tượng riêng. Chính vì vậy, những tác phẩm ấy nhanh chóng ra đi trong cảm nhận của người đọc như một làn gió mỏng manh thoáng qua. Như vậy, mỗi người nghệ sĩ trong quá trình cầm bút cần phải tạo được tiếng nói riêng, âm sắc riêng. Nó đòi hỏi anh phải miệt mài trên con đường sáng tạo, không ngừng nghỉ, không lùi bước. Một âm vang tha thiết, đặc sắc giữa cõi văn chương, ấy là sức sống của anh, là ấn tượng của anh trong lòng người đọc muôn đời.

   Văn học là một trong những hình thái nghệ thuật phản ánh đời sống. Nếu các nhà khoa học lấy mục đích cuối cùng của việc nghiên cứu là nhằm đạt tới chân lý khách quan biểu thị qua những định lý, định luật mang tính khuôn mẫu, là nguyên tắc chung… thì các nhà văn lại phải tìm trong hiện thực cuộc sống bộn bề những vấn đề cá biệt mang tính bản chất và phản ánh vào trong tác phẩm thông qua những hình thức nghệ thuật riêng với quan điểm của riêng mình.

    Văn chương không thể được tạo ra theo hình thức sản xuất có tính dây chuyền, không phải là sản xuất hàng loạt. Tác phẩm văn học khi được viết ra bằng ngôn từ nghệ thuật nhất thiết phải thể hiện được cách nhìn về hiện thực riêng, những tìm tòi về nghệ thuật riêng của người nghệ sĩ. Hình ảnh cuộc sống trong tác phẩm là hình ảnh của hiện thực đã đi qua một tâm hồn, một cá thể và dấu ân cá thể in vào trong đó “càng độc đáo càng hay”. Xuân Diệu đã nói: “chỉ có những tâm hồn đồng diệu chứ không thể có những con người là phiên bản của nhau. Bởi vậy, sáng tác văn học, một thứ sản xuất “đặc biệt và cá thể” nhất quyết không thể tạo ra những tác phẩm giống nhau như khuôn đúc”.

    Giọng nói riêng của nhà văn có thể hiểu là một tâm tư tình cảm riêng, một thái độ sống, cách nhìn, cách đánh giá về hiện thực cuộc sống riêng được biểu hiện trong tác phẩm bằng hình thức nghệ thuật phù hợp. Nam Cao từng nói rất thấm thía một điều: “Văn chương không cần đến…. sáng tạo những gì chưa có”.

    Cuộc sống phong phú muôn màu muôn vẻ luôn ẩn chứa nhiều điều bí ẩn, chứa nhiều điều bí mật, kỳ diệu cần được khám phá. Bề dày lịch sử văn học thế giới đã dược tạo dựng hàng loạt những khám phá riêng ấy. Song điều đó không có nghĩa người nghệ sĩ được phép lùi bước trong sáng tạo. Viên Mai cho ràng: “Làm thơ quý nhất là lật đổ cái án cũ mới hay”. Điều Viên Mai cho rằng “quý nhất” ấy thực chất cần thiết với văn học nói chung, nào phải chỉ riêng, thơ ca. Chỉ có điều: với tư cách là loại hình nghệ thuật phản ánh cuộc sống bằng phương thức trữ tình, yêu cầu “lật đổ cái án cũ” với thơ ca được đề cao hơn hết thảy.

    Người nghệ sĩ phải có một con mắt tinh sắc, một tâm hồn nhạy cảm và một tài năng đã đến độ chín để gửi vào trong tác phẩm giọng nói riềng của mình. Anh có thể học tập, tiếp thu tinh hoa trong tác phẩm của các nhà văn lớp trước nhưng phải trên cơ sở sự sáng tạo. Nói như M.Gorki: “các anh hãy học tập tất cả những nhà văn có phong cách diêu luyện, nhưng các anh hãy tìm lấy nốt nhạc lời ca cho riêng mình”.

    Người nghệ sĩ không được phép lười biếng hay bắt chước mà phải luôn trong tâm thế tìm tòi, sáng tạo. Tất nhiên điều đó không có nghĩa nhà văn được phép tìm tòi theo hướng cực đoan, viết những điều không ai hiểu được.

    Để thơ trở thành thơ, để nghệ thuật trở thành nghệ thuật, người làm thơ phải luôn ý thức: sáng tạo cái độc đáo. Không ai đòi hỏi khuôn mẫu cho nghệ thuật, cũng không ai dạy nhà thơ phải phản ánh thế này, xúc động thế kia. Đấy là công việc của nhà làm thơ. “Sáng tác thơ là một việc do cá nhân thi sĩ làm, một thứ sản xuất đặc biệt và cá thể”. Bởi vì mỗi tâm hồn là một “vương quốc riêng”, mỗi bài thơ là một đứa con tinh thần riêng của người nghệ sĩ, thật khó tim thấy sự trùng lặp trong sáng tạo. Bởi vì “tầm thường là cái chết của nghệ thuật”, sự lặp lại tẻ nhạt là cái chết của thơ ca. Độc đáo luôn là yêu cầu muôn dời của văn chương nghệ thuật.

2. Bình luận về ý kiến: “Quá trình sáng tạo nghệ thuật chân chính bao giờ cũng là một quá trình kép: vừa sáng tạo ra thế giới, vừa kiến tạo nên bản thân mình”

    Có lần Tô Hoài – nhà văn danh tiếng trong văn học Việt Nam hiện đại tâm sự rằng ông viết “Vợ chồng A Phủ” từ những trải nghiệm thực tế từ hiện thực Tây Bắc. Tây Bắc ư, không chỉ riêng mây mù giăng lối mà còn là những điệu khèn, tiếng sáo du dương, những ly rượu nồng và những chiếc váy hoa sặc sỡ làm say lòng người đã gieo vào tâm hồn Tô Hoài những giọt thương nhớ. “Chéo lù! Chéo lù!” tiếng mời gọi quay trở lại tha thiết ấy đã như một liều thuốc kích thích mạnh mẽ niềm xúc cảm mãnh liệt khiến người nghệ sĩ không khỏi thổn thức, xuyến xao. Chính những vang động của cuộc đời, chất mặn mòi của hiện thực cuộc sống đã tiếp sức ngòi bút nhà văn, nhà thơ viết nên những tác phẩm hay rung động trái tim triệu triệu con người. Nhưng những tác phẩm ấy đâu chỉ là tiếng vọng từ hiện thực mà còn luôn là sự sáng tạo và là mảnh ghép còn thiếu trong bức tranh tâm hồn của người nghệ sĩ. Chính vì vậy, có ý kiến cho rằng “Quá trình sáng tạo nghệ thuật chân chính bao giờ cũng là một quá trình kép: vừa sáng tạo ra thế giới, vừa kiến tạo nên bản thân mình.”

    Không giống như các môn khoa học khác, văn học là một môn nghệ thuật có chức năng nhận thức và khám phá đời sống, con người. Nghệ thuật là lĩnh vực của sự độc đáo do đó yêu cầu văn chương phải luôn vận động thay đổi mình trở nên mới mẻ từ thời đại này sang thời đại khác. “Thế giới” chính là những sáng tạo của tác giả dựa trên nền tảng hiện thực và thể hiện tư tưởng thẫm mĩ cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn. Nhưng từ hiện thực ấy, nhà văn sáng tạo ra trong tác phẩm một thế giới riêng vừa mang dấu ấn hiện thực nhưng lại chưa có bao giờ. Nói cách khác là một thế giới được tái tạo bằng cách nhìn riêng, cảm nhận riêng của người nghệ sĩ. Nói như Nguyễn Tuân: “Nhà văn chân chính nào cũng có một thế giới riêng. Cái thế giới ấy là những hình tượng sáng tạo ra do nhân sinh quan và vũ trụ quan của nhà văn và phản anh nên cái thực tế của thời đại”. Văn học làm cho con người thêm phong phú, tạo khả năng cho con người lớn lên, hiểu được con người nhiều hơn.

    Một nhà văn đích thực mà chỉ đem một tiếng nói chung chung vô vùng nhạt nhẽo? Ấy đâu phải nghệ thuật. Nghề văn không hề dễ dàng, để sáng tạo nên tác phẩm tác phẩm hay đó là cả một quá trình lao động đầy gian khó và cực nhọc. Trải mình với đời, ta lắng lòng và chiêm nghiệm với những ngang trái trong bốn bể, ta chắt lọc được những điều quý giá và đẹp đẽ của cuộc đời và con người, đó cũng là lúc ta “kiến tạo bản thân mình”. Tự chính sự trải nghiệm, nhà văn sẽ dần hoàn thiện nhân cách bản thân, nhân văn hơn, tốt đẹp hơn. Nhận định trên đã nêu lên khái quát chung cho quá trình sáng tạo nghệ thuật chân chính. Không chỉ vẽ ra thế giới thu nhỏ của hiện thực cuộc đời mà chính nhà văn còn xây dựng và hoàn thiện bản thân cho cao đẹp. Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu. Tình yêu con người, ước mơ cháy bỏng vì một xã hội công bằng, bình đẳng bái ái luôn luôn thôi thúc các nhà văn sống và viết, vắt cạn kiệt những dòng suy nghĩ, hiến dâng bầu máu nóng của mình cho nhân loại.

    Như một định luật muôn thuở, văn học phản ánh hiện thực và đã là định luật thì không có một ngoại lệ nào cả. Cuộc đời ẩn chứa biết bao điều bí ẩn mà ta chưa khám phá, những tiếng nói thỏ thẻ mà ta chưa thể lắng nghe và những tiếng khóc than hậm hực cho số phận chưa được đồng cảm. Cuộc đời này chính là chất liệu vô tận, là biển xanh trùng khơi cho người nghệ sĩ khai khác những “hạt bụi vàng” mà góp nên trang. “ cuộc đời là nơi xuất phát cũng là nơi đi tới của văn học” (Tô Hoài). Thoát thai từ hiện thực, văn học sẽ mãi luôn bén rễ vào cuộc đời, hút nguồn nhựa dạt dào chảy trong lòng cuộc sống và trở thành cây xanh tỏa bóng mát lại cho đời. Là nhà văn, anh phải để ngòi bút thấm đẫm chất mặn mòi của nghiên mực để văn anh cất lên những âm thanh mang hơi thở của hiện thực, vẽ nên bức tranh về đời một cách chân thực và sâu sắc. Thần Ăng-tê chỉ bất khả chiến bại khi chân chạm vào đất. Không một ai địch nổi người trừ khi người bị nhấc ra khỏi mặt đất. Lúc ấy chàng sẽ chết vì không còn nhận được sức mạnh từ Đất Mẹ. Văn học cũng vậy, những tác phẩm sẽ sống nếu được tắm mát và nuôi dưỡng trong mạch sữa tươi mát của cuộc đời. Chế Lan Viên – người đã từng trải nghiệm thấm thía điều này nên trong bài “Sổ tay thơ” thi sĩ đã viết:

“Bài thơ anh, anh làm một nửa thôi
Còn một nửa, để mùa thu làm lấy
Cái xào xạc hồn anh chính là xào xạc lá
Nó không là anh, nhưng nó là mùa.”

    Cuộc sống bao la và kì diệu làm sao! Nó đưa văn học gần gũi với cuộc đời thế nhưng văn học không phải phản ánh hiện thực như những gì nó có. Nhà phê bình người Nga Bêlinxki từng nói: “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó”. 

    Văn học sẽ như thế nào nếu nó chỉ là những con chữ hiện thực nằm thẳng đơ trên trang giấy? Tác phẩm sẽ tồn tại nếu đó chỉ là sự photocopy không hơn không kém? Không, văn học là sự thật ở đời (ý Vũ trọng Phụng) nhưng chỉ được phơi bày qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ. Ngụp lặn giữa biển đời mênh mông, người nghệ sĩ đồng cảm, đau xót bằng tình cảm đã được rung lên bần bật với những số phận những bi kịch. Và khi vào trang giấy, những con người ấy sẽ hiển hiện qua đôi mắt tư tưởng của nhà văn, thế giới được tái hiện trên tấm thảm tình cảm người nghệ sĩ. Bằng năng lực sáng tạo và độ nhạy bén tinh tế, nhà văn sẽ tạo lập cho mình một thế giới riêng và thế giới ấy là hiện thực được phản chiếu qua ánh sáng tư tưởng của nhà văn.

    Nói như Hoài Thanh : “Nhà văn không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này, nhưng thế giới này trong con mắt nhà văn phải có một hình sắc riêng”. Cùng một đề tài về người nông dân, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan đã nói về số phận cơ cực của những người nông dân trong cảnh bần cùng hóa, Nam Cao thì đề cập sự tha hóa của con người trước những tác động nghiệt ngã của hoàn cảnh sống còn Thạch Lam âu lo cho tình trạng sống mòn, vô nghĩa, buồn tẻ của những số phận trong xã hội. Sự khai thác khác nhau này sẽ khắc họa chân dung từng nhà văn với đường nét mà ta có thể ghi nhớ bằng những tác phẩm tuyệt bút của họ. Không chỉ vậy, những cái nhìn khác biệt sẽ càng làm cho thi đàn văn học trở nên phong phú và đa dạng hơn và không ngừng làm mới trong chiều kích của thời gian.
Nếu như văn học Nga có Puskin với “Con gái của viên đại úy”, Đôttoiepxki với “Tội ác và trừng phạt”, Mỹ thì có O.Henri với truyện ngắn xuất sắc “Chiếc lá cuối cùng” thì ở Pháp ta có tiểu thuyết vĩ đại “Những người khốn khổ” của Vichto Hugo. Đọc tác phẩm ta không chỉ thấy bối cảnh xã hội Pháp trong khoảng 20 năm đầu của thế kỉ 19 mà đó còn là một cuốn bách khoa thư đồ sộ về lịch sử, kiến trúc của Paris, nền chính trị, triết lý, luật pháp, công lý, tín ngưỡng của nước Pháp nửa đầu thế kỷ 19. Chính nhà văn Victor Hugo cũng đã viết cho người biên tập rằng: “Tôi có niềm tin rằng đây sẽ là một trong những tác phẩm đỉnh cao, nếu không nói là tác phẩm lớn nhất, trong sự nghiệp cầm bút của mình”.

    Tác phẩm chân chính không kết thúc ở trang cuối cùng, không bao giờ hết khả năng kể chuyện khi câu chuyện về các nhân vật đã kết thúc. Tác phẩm nhập vào tâm hồn và ý thức của bạn đọc, tiếp tục sống và hành động như một lực lượng nội tâm, như sự dằn vặt và ánh sáng của lương tâm, không bao giờ tàn tạ như thi ca của sự thật. Tác phẩm như tấm gương phản chiếu hiện thực lúc bấy giờ mà trong sự phản chiếu ấy bật lên những giá trị nhân văn cao đẹp. Cái đẹp trong tác phẩm được thể hiện đa dạng trên nhiều bình diện khác nhau nhưng chủ yếu nằm ở phẩm chất của con người. Họ là những người lao động khốn khổ, những người có thân phận thấp kém, bị xã hội tư sản phủ nhận, coi rẻ nhưng lại tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp, cao cả. Đó là GiăngVanGiăng – vị thánh vốn là một người tù khổ sai, người sống trọn một đời bao dung và cứu vớt người nghèo; là Phăngtin –“ cô gái điếm” có tình mẫu tử sánh tựa Đức Mẹ, người đã bán cả răng, tóc và cả thân xác, bán đi danh dự và nhân phẩm của mình để con mình được hạnh phúc; Côdét – cô bé lọ lem trong xã hội tư sản. Bị kịch của họ là đói nghèo, khốn khổ bởi sự vùi dập của xã hội nhưng mỗi người vẫn toát lên vẻ đẹp từ phẩm chất của họ. Tác phẩm như bản tráng ca ca ngợi vẻ đẹp của người lao động, họ vượt qua số phận nghịch cảnh, họ bước ra từ bóng tối và vươn tới ánh sáng. Đại thi hào Vichto Hugo đã trao trọn niềm tin và tình yêu thương của mình dành cho người lao động, ông đã chỉ ra những phẩm chất sáng ngời của họ và ông xứng đáng là nhà nhân đạo chủ nghĩ vĩ đại nhất thế kỉ XIX.

    Quá trình sáng tạo là một hành trình song song, cuộc đời đã được thể hiện qua cái nhìn của nhà văn chất chưa bao duy tư, trăn trở của một tấm lòng yêu thương con người và chính những ưu tư day dứt về cuộc đời con người ấy nhà văn mới dần trở nên hoàn thiện mình, lấp đầy những thiếu xót và bồi dưỡng cho tâm hồn thêm trong sáng và thuần khiết. Ibsen từng khẳng định “Sáng tác, có nghĩ là tiến hành một cuộc xét xử không giả dối về chính mình”. Một cuộc xét xử sẽ khiến nhà văn càng thêm đầy đủ trong nhận thức về thế giới và đôi mắt sẽ luôn hướng về con người với bao niềm yêu thương và tin tưởng. Vui biết bao sau tác phẩm không riêng độc giả vươn đến giá trị chân – thiện – mỹ mà nhà văn, người sáng tạo cũng dần hoàn thiện bản thân hơn bởi “văn học, đó là tư tưởng đi tìm cái đẹp trong ánh sáng”

    Trong nền văn học Việt Nam, không thể không nhắc đến Nam Cao – nhà văn nhân đạo lớn. Những trang viết của Nam Cao về người trí thức nghèo trước cách mạng tháng Tám cũng chính là những suy tư, trăn trở của chính con người Nam Cao. Trong đó bi kịch của nhân vật Hộ trong “Đời thừa” thể hiện rõ nhất những tăn trở, suy tư của ông với tư cách con người và nghệ sĩ. Hộ vấp phải bi kịch đầu tiên đó là bi kịch về những giấc mộng văn chương. Đối với anh, văn chương là trên hết, là khát vọng lớn nhất của anh. Anh muốn viết tác phẩm “lớn lao, mạnh mẽ vừa đau đớn vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương tình bác ái, sự công bình. Nó làm cho người gần người hơn”. Một giấc mơ cao cả và chính đáng, anh có quyền mơ như thế với tư tưởng lớn như vậy.

    Thế nhưng đớn đau thay “cơm áo không đùa với khách thơ”. Anh không thể sống ích kỷ cho riêng mình, anh còn có mẹ già và vợ con, anh phải sống có trách nhiệm. Chính những nỗi âu lo về tiền bạc đã níu kéo giấc mộng văn chương của đời trai trẻ. Làm thế nào đây khi mai lại đến hạn nộp tiền? Sống sao khi đàn con thơ chưa ăn được bữa no? Anh phải viết, bắt buộc phải viết thật nhanh và vội để không chết đói. Cái nghèo đói và trách nhiệm gia đình đã đẩy anh vào bi kịch văn chương. Anh không khóc nhưng có lẽ ta có thể thấu những những giọt nước mắt chua xót bất lực của anh. Có người cho rằng anh chính là hình ảnh của Nam Cao thời kỳ trước cách mạng. Không, Nam Cao đã có có thể bị áo cơm ghì chặt nhưng ông vẫn hơn Hộ, ông đã viết nên những áng văn hay nhất về cuộc đời và những kiếp lầm than như Chí Phèo, Làng, Đời thừa… Nam Cao đã thể hiện tư tưởng nhân đạo mới mẻ, độc đáo trong Đời thừa. Đó là ca ngợi khát vọng đẹp đẽ của Hộ và sự cảm thông sâu sắc với người trí thức nghèo. Phải có những hiểu biết sâu sắc về tâm tư tình cảm con người thì Nam Cao mới viết nên những câu văn lay động lòng người như thế. Nhà văn không “phản ánh để phản ánh” mà sau những câu chữ dường như lãnh đạm ấy lại chính là một tấm lòng sôi nổi, nhiệt thành, một trái tim của tình nghĩa.

Nhà thơ Chế Lan Viên từng viết:

“Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành một mật
Một giọt mật thành, đời vạn chuyến ong bay
Nay rừng nhãn non Đoài, mai vườn cam xứ Bắc
Ngọt mật ở đồng bằng mà hút nhụy tận miền tây.”

    Người nghệ sĩ phải hút lấy chất mật ngọt tinh túy nhất của “quặng” cuộc đời, chưng cất những chất liệu hiên thực để tạo nên tác phẩn thật sự có giá trị ở đời. Sáng tạo nghệ thuật là một hành trình lao động miệt mài và thấm đẫm những giọt nước mắt. Để trở thành nhà văn không khó nhưng một nhà văn chân chính lại không hề dễ dàng. Người nghệ sĩ phải sống thật với đời, “cảm” sâu những tiếng nói tình cảm vẫn ngày đêm thổn thức giữa chốn bộn bề, không ngừng sáng tạo và bồi dưỡng tâm hồn mình để tư tưởng tình cảm tốt đẹp có thể lan tỏa muôn nơi. Văn học dẫu cho cùng vẫn là câu chuyện của những trái tim đồng điệu, của những tiếng nói đồng tình, đồng chí, đồng ý vì thế bạn đọc phải nâng cao nhận thức cũng như không ngừng bồi đắp trái tim cho đẹp, cho tốt. Khi ấy văn học đã hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng của mình: hướng con người đến giá trị đích thực Chân – Thiện – Mỹ.

   Văn chương muôn đời là mảnh đất bí ẩn cần được khai thác. Chắt chiu từng những hạt bụt vàng giữa cuộc đời để đúc nên “bông hồng vàng”, nhà văn thực sự đem lại hạnh phúc cho cuộc sống và chính mình. Tác phẩm văn học dù cho viết về cái xấu hay cái tốt, lương thiện hay tàn ác nhưng một khi đã bắt rễ vào hiện thực và chất chứa những giá trị nhân văn to lớn thì mãi mãi văn học sẽ sống và bầu bạn với con người dẫu “mọi lý thuyết là màu xám, chỉ cầy đời mãi mãi xanh tươi” (Gớt).

3. Nam Cao viết: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu… và sáng tạo những cái gì chưa có”. Hãy bình luận ý kiến trên.

    Nam Cao là một nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện thực những năm trước và sau cách mạng tháng 8/1945. Ông đã để lại nhiều tác phẩm hay kiệt xuất viết về số phận của những người nông dân lao động, tầng lớp tri thức nghèo bị xã hội xô đẩy tới những cảnh khốn khổ không lối thoát.

    Tác phẩm “Đời thừa” là một tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao khi viết về giai cấp tiểu tư sản trong những năm khi cách mạng vẫn chưa diễn ra. Hộ là nhân vật chính trong tác phẩm, là người có suy nghĩ tích cực luôn muốn mình sống đúng như một con người hướng tới giá trị của sự Chân – Thiện- Mỹ.

    Nhưng cuộc đời nghèo khó túng quẫn khiến họ thay đổi rất nhiều anh phải viết ra những tác phẩm đáp ứng nhu cầu thị hiếu của độc giả nhưng ít tính nhân văn, ít giá trị thẩm mỹ để lấy tiền sinh sống qua ngày.

    Điều này khiến Hộ vô cùng đau đớn chính vì vậy mà anh đã thốt ra rằng “ăn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi. khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có”

    Câu nói này như một tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao nó gửi gắm những suy tư quan niệm của tác giả về sứ mệnh cầm bút của một nhà văn chân chính. Nó khiến cho nhiều người phải giật mình nhìn lại mình xem bản thân chúng ta đã thật sự sống xứng đáng với nghiệp viết văn hay chưa, đã viết đúng tâm đúng tầm của mình, hay chỉ viết lên những tác phẩm ba xu rẻ tiền mua vui cho thiên hạ, đọc xong rồi họ vứt vào sọt rác mà không đọng lại gì trong đầu, không có tính định hướng giáo dục, không khơi gợi tâm hồn con người hướng tới cái cao quý, lương thiện.

    Câu nói này tuy ngắn gọn nhưng lại có tính tác động mạnh mẽ nghiêm túc với những người đang cầm bút sáng tác văn chương. Nó nhằm khẳng định một chân lý muôn đời rằng sự nghiệp văn chương là sự sáng tạo nghệ thuật, không phải là một nghề để kiếm tiền, không phải cứ cần cù học hỏi thì sẽ thành công.

    Nghề văn là nghề vô cùng độc đáo thú vị nó đòi hỏi sự sáng tạo tích cực của những người cầm bút. Đòi hỏi cái tâm cái tài của tác giả, nếu như không có cái nhìn khách quan, đa chiều thì người cầm bút dễ nêu ra những quan điểm lệch lạc sai lầm.

    Một người thợ sơn mài, hay thợ gốm, chỉ cần cần cù chịu khó tô luyện mài dũa tay nghề mỗi ngày là có thể thành công, trở thành thợ chính làm ra những tác phẩm vô cùng đẹp đúng theo khuôn mẫu ban đầu đã cho.

    Tuy nhiên, sáng tạo văn chương thì không phải như vậy. Nó đòi hỏi con người cần phải đào sâu suy nghĩ, khơi những nguồn chưa ai khơi, có như vậy mới mong tạo ra một quan điểm mới, một cái nhìn sáng tạo đa chiều về cuộc sống.

    Để đưa ra quan điểm này chắc hẳn nhà văn Nam Cao cũng phải suy nghĩ tư duy rất nhiều, đã phải nghiền ngẫm cuộc sống khá lâu thì ông mới có thể thốt ra một câu nói vô cùng sâu sắc, như một tuyên ngôn nghệ thuật được nhiều người thế hệ sau đánh giá cao.

    Người cầm bút sáng tác văn chương kị nhất là việc sao chép dập khuôn đi theo lối mòn, tạo ra những tác phẩm mờ nhạt không có dấu ấn của riêng mình, không tạo ra được phong cách của bản thân, thì sẽ rất khó để có chỗ đứng trong nghệ thuật.

    Nhà văn cũng cần phải có tinh thần nhân văn, nhạy bén và phải suy nghĩ sâu xa hơn người bình thường để có thể nắm bắt được thời cuộc, nhìn thấy những vấn đề mà người khác không thấy đưa ra những khía cạnh sâu sắc, thú vị có khả năng tác động tới ý thức hành động của con người.

    Nhà văn Hộ nhân vật chính trong tác phẩm Đời thừa của Nam Cao cũng là người có tâm có tài với nghề. Anh ta luôn khao khát, mơ ước tạo ra một tác phẩm có tầm ảnh hưởng to lớn tới con người trong xã hội, tạo được dấu ấn riêng của mình. Nhưng Hộ lại bị kẹp giữa ước mơ vĩ đại và cuộc sống cơm áo gạo tiền thường tình.

    Bản thân Hộ là một người tốt, anh sẵn sàng giúp đỡ người khác khi cần thiết anh cưới Từ nhận cái thai trong bụng cô làm con mình. Tổ chức đám ma cho bố cô khi ông qua đời, nhưng từ khi lấy Từ rồi những đứa con lần lượt ra đời thì cuộc sống của anh trở thành khốn khổ, bởi cái gì cũng cần tiền. Tiền nhà, tiền điện, tiền nước, tiền con ăn, tiền ốm đâu chi phí thuốc men, khiến Hộ rơi vào bi kịch cùng cực.

    Trước đây, Hộ viết rất cân nhắc anh chỉ viết đủ sống thậm chí sống kham khổ nhưng từ khi có vợ anh phải viết bừa, viết ẩu, viết theo thị hướng người đọc, những tác phẩm ba xu, khiến anh vô cùng đau lòng, xấu hổ mỗi khi thấy tên mình được ký dưới mỗi bài viết. Anh tự cảm thấy mình đã hỏng, đồ bỏ đi sống một cuộc sống đời thừa vô dụng…

    Thông qua tác phẩm của mình ta thấy chủ nghĩa nhân văn, cao thượng của nhà văn Nam Cao cũng như quan điểm nhân sinh của ông khi phản ánh những số phận con người thông qua ngòi bút của mình.

    Nam Cao là người có tâm có tài ông thường viết lên những nhân vật vô cùng đau khổ, nhưng tận trong trong tâm hồn những con người đó vẫn là những lương tâm thánh thiện, hướng tới cái tốt đẹp của phần người dù cuộc sống có xô đẩy họ vào con đường lầm lạc, tội lỗi thì tới cùng họ vẫn đều là những con người tốt.

    Nhân vật Chí Phèo, một người vô cùng liều thân, một thằng khố rách áo ôm của xã hội bị cả làng xua đuổi, nhưng được tác giả Nam Cao đã khai thác nội tâm của Chí Phèo vô cùng sâu sắc và cái cách tác giả kết thúc cho tác phẩm của mình cũng khiến nhiều người phải khóc. Trước khi giết Bá Kiến kẻ đã dồn cuộc đời mình vào con đường lưu manh khốn nạn, Chí Phèo đã nói rằng “Tao không cần tiền. Tao muốn lương thiện. Ai cho tao lương thiện” Đó là câu nói ám ảnh ghê gớm với người đọc.

    Nó là những câu nói rút ra từ đáy lòng của một tên cùng đinh, mạt hạng, nhưng tới cuối cùng phần con người, phần tốt đẹp của Chí Phèo vẫn chiến thắng, anh vẫn là người tốt, muốn sống như một người tốt chẳng qua vì xã hội thối nát, đưa đẩy Chí Phèo tới đường khốn nạn.

    Nhà văn Hộ một người tốt đẹp, có học thức theo đuổi cái đẹp cái hoàn mỹ nhưng rồi khi cuộc sống khốn khó anh cũng bị biến đổi theo thời cuộc. Phải viết văn chương theo lối viết bừa viết ẩu lấy tiền cho vợ con sinh sống. Hộ từ một người nho nhã không bao giờ to tiếng với ai giờ đây khi uống rượu nát rượu anh cũng ra tay chửi vợ mắng con, để rồi khi tỉnh dậy anh lại vô cùng ân hận vì hành động mất tính người của mình.

    Chính cuộc sống bần cùng đã làm cho con người ta không còn giữ được lương thiện của mình, nhưng dù thế nào thì những con người đó vẫn luôn muốn hướng thiện vẫn đang cố gắng vùng vẫy giữa ranh giới mong manh giữa thiện và ác.

    Những tác phẩm của Nam Cao đều là những tác phẩm vô cùng độc đáo, để lại ấn tượng sâu sắc tới người đọc. Nhà văn Nam Cao xứng đáng là một nhà văn hiện thực tiêu biểu, một nhà văn có tâm có tầm ảnh hưởng rất nhiều tới nền văn học Việt Nam.

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button