Lớp 12Ngữ Văn

Lý luận văn học về tác phẩm Vợ nhặt

Đề bài: Lý luận văn học về tác phẩm Vợ nhặt

Đề bài 1

    Về nhân vật người Vợ nhặt trong truyện ngắn “Vợ  nhặt” của Kim Lân, có ý kiến cho rằng: Đó là một người đàn bà liều lĩnh, thiếu tự trọng giữa nạn đói. Ý kiến khác thì khẳng định: Đó là một người phụ nữ có khát vọng sống, có ý thức về phẩm giá của mình”. Bình luận các ý kiến trên.

   Nạn đói năm 1945 đã gây ra bao mất mát, tang thương cho con người Việt Nam: người chết như ngả rạ, người sống thì vật vờ như những bóng ma. Viết về hiện thực khốc liệt của nạn đói năm Ất Dậu, nhà văn Kim Lân đã tái hiện đầy chân thực qua truyện ngắn “Vợ nhặt”. Cùng với nhân vật Tràng, bà cụ Tứ, nhân vật người vợ nhặt đã góp phần quan trọng trong việc thể hiện tư tưởng chủ đề của truyện ngắn. Bàn về nhân vật người Vợ nhặt, có ý kiến cho rằng: Đó là người đàn bà liều lĩnh, thiếu tự trọng giữa nạn đói. Ý kiến khác lại khẳng định: Đó là một người phụ nữ có khát vọng sống, có ý thức về phẩm giá của mình.

Bạn đang xem: Lý luận văn học về tác phẩm Vợ nhặt

   Hai ý kiến đánh giá về người vợ nhặt nhìn qua có vẻ mâu thuẫn, đối lập hoàn toàn thế nhưng mỗi ý kiến lại là một cách nhìn nhận riêng mà khi kết hợp những đánh giá ấy, ta lại thấy được chân dung con người, tính cách người vợ nhặt hoàn chỉnh nhất.

Bài viết gần đây

    Trước hết, về ý kiến đánh giá thứ nhất cho rằng người vợ nhặt là người đàn và liều lĩnh, thiếu tự trọng. Đánh giá này dựa trên những lời nói, hành động thực tế của người vợ nhặt trong tác phẩm. Người vợ nhặt vì đói nghèo mà trơ trẽn đòi anh Tràng trả công bằng những bát bánh đúc, để chạy trốn cái đói, cái chết người đàn bà ấy đã chấp nhận theo không một người đàn ông xa lạ về làm vợ.

    Điều gây bất ngờ nhất là cách người vợ nhặt đồng ý làm vợ anh Tràng quá dễ dàng chỉ với vài câu bông đùa và bốn bát bánh đúc. Chị ta chấp nhận giao cuộc sống và tương lai của mình cho một người đàn ông mới quen và có lẽ  hoàn cảnh người đàn ông ấy cũng không khá khẩm hơn mình bao nhiêu.  Ngay cả khi chứng kiến gia cảnh nghèo khó, tồi tàn của mẹ con Tràng người vợ nhặt vẫn ở lại mà không bỏ đi, chị ta đã chấp nhận đánh cược với số phận để thay đổi cuộc sống. Hành động này chẳng phải quá mức liều lĩnh với một con người ham sống như chị ta hay sao?

   Ý kiến thứ hai cho rằng người vợ nhặt là người phụ nữ có tự trọng, có ý thức về phẩm giá. Thông qua những biểu hiện của chị vợ nhặt với anh Tràng ở chợ huyện ta chỉ thấy chị ta vô duyên, trơ trẽn liều lĩnh. Thế nhưng từ khi theo Tràng về nhà, sự thay đổi của chị ta đã mang đến những cảm nhận vô cùng khác biệt với ấn tượng ban đầu.

    Khi theo anh Tràng về nhà, người đàn bà không còn tỏ ra trơ trẽn, chỏng lỏn mà tỏ ra vô cùng biết điều, đúng mực. Trước những lời đàm tiếu, trêu đùa của người dân xóm ngụ cư, chị ta có bực mình nhưng chỉ làu bàu trong miệng. Khi gặp bà cụ Tứ chị ta cũng tỏ ra rất đúng mực của một người con dâu mới. Ý kiến đánh giá này đã thể hiện sự cảm thông, trân trọng đối với những giá trị tốt đẹp tiềm ẩn bên trong người vợ nhặt.

   Nhìn nhận một cách toàn diện nhất về nhân vật, ta có thể thấy người vợ nhặt đanh đá, chỏng lỏn chỉ là cách chị ta phản kháng lại với xã hội đen tối. Sự vô duyên, thiếu tự trọng lúc ban đầu là do chị ta quá đói, quá khổ, cũng vì ham sống mà chị ta có những hành động thiếu tự trọng. Xét đến cùng, người vợ nhặt cũng chỉ là nạn nhân đáng thương của nạn đói, cảnh ngộ bi thảm đã khiến chị ta trở nên liều lĩnh, chấp nhận theo không một người đàn ông xa lạ.

    Sống trong cái dữ dội của nạn đói, bị đẩy vào hoàn cảnh bi thảm nhưng người vợ nhặt vẫn có những biểu hiện ý tứ, chuẩn mực đầy tự trọng: ngượng nghịu khi bị người dân xóm Ngụ cư nhìn soi mói trên đường về nhà Tràng; đến nhà Tràng, chị ta cũng chỉ ngồi mớm ở mép giường.

    Qua sự tháy đổi của người vợ nhặt, ta có thể thấy người đàn bà ấy có khát vọng sống, khát khao hạnh phúc âm thầm mà mãnh liệt. Đó cũng là những khát vọng chính đáng của con người dẫu bị đặt vào hoàn cảnh éo le nhất. Hai ý kiến đánh giá về người vợ nhặt đã mang đến cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về nhân vật, con người trong nạn đói.

Đề bài 2

    Bình luận những ý kiến đánh giá về truyện Vợ nhặt sau: ”Vợ nhặt miêu tả sâu sắc tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945” và  “Vợ nhặt đã thể hiện cảm động vẻ đẹp tình người và khát vọng sống mãnh liệt của người nông dân ngay trên bờ vực của cái chết”

    Nếu xét 10 nhà văn xuất sắc nhất của nền năm học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 thì không có tên của nhà văn Kim Lân bởi số lượng tác phẩm của ông quá ít, thế nhưng nếu xét 10 tác phẩm văn học xuất sắc nhất trong giai đoạn này thì Kim Lân lại một mình ôm trọn tới hai tác phẩm, một là truyện ngắn Làng và tác phẩm còn lại là truyện ngắn Vợ Nhặt. Với nhà văn Kim Lân thì khi nhìn nhận lại hai tác phẩm xuất sắc nhất của mình, ông cũng tự thấy rằng truyện ngắn Vợ nhặt còn hay hơn Làng rất nhiều, bởi những giá trị nội dung nó mang lại quá đỗi sâu sắc, phản ánh đúng thực trạng đất nước và nhân dân Việt Nam ta những năm tháng trước cách mạng. Nhận xét về truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân có ý kiến cho rằng: “Vợ nhặt miêu tả sâu sắc tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945”. Lại có ý kiến khẳng định “Vợ nhặt đã thể hiện cảm động vẻ đẹp tình người và khát vọng sống mãnh liệt của người nông dân ngay trên bờ vực của cái chết”. Đi sâu vào phân tích tác phẩm mới thấy, cả hai ý kiến trên đều đúng và là giá trị nội dung cốt lõi mà Kim Lân thực sự muốn truyền tải trong tác phẩm này.

    Kim Lân (1920-2007) tên thật là Nguyễn Văn Tài, quê ở tỉnh Bắc Ninh. Ông chỉ học hết bậc tiểu học, rồi phải lăn lộn kiếm sống chật vật bằng rất nhiều nghề, từ năm 1944 đã bắt đầu tham gia hội văn hóa cứu quốc, liên tục hoạt động văn nghệ phục vụ kháng chiến, phục vụ cách mạng. Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn, thế giới nghệ thuật của truyện Kim Lân thường tập trung ở những quang cảnh nông thôn, về cuộc sống của những người nông dân và khi viết về người nông dân dưới lũy tre làng thì dù họ có nghèo khổ thiếu thốn nhưng bao giờ cũng sáng ngời những phẩm chất tốt đẹp là yêu đời, thật thà, chất phác, hóm hỉnh, tài hoa.

    Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc được in trong tập truyện Con chó xấu xí xuất bản năm 1962, tiền thân của nó là tiểu thuyết Xóm ngụ cư (chưa hoàn thành), viết về nạn đói khủng khiếp năm 1945 và niềm tin tưởng hy vọng vào một cuộc cách mạng đổi đời của người nông dân cùng khổ thời bấy giờ.

    Nói “Vợ nhặt miêu tả sâu sắc tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945”, là đề cập đến giá trị hiện thực của tác phẩm, tái hiện lại số phận khốn khổ của những người nông dân dưới sự chèn ép tàn độc “một cổ hai tròng”, của cả thực dân Pháp và phát xít Nhật. Nạn đói năm 1945 đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu đồng bào Việt Nam, gây ra những hệ lụy khủng khiếp mà người nông dân phải oằn mình gánh chịu. Tình cảnh thê thảm ấy đã được Kim Lân dùng ngòi bút hiện thực của mình tái hiện lại một cách rất tinh tế và xuất sắc thông qua những nhân vật trong tác phẩm, mà ở đó mỗi nhân vật ai cũng có những niềm đau, những nỗi bất đắc dĩ riêng, đó là Tràng, là Thị, là bà cụ Tứ.

    Về ý kiến “Vợ nhặt đã thể hiện cảm động vẻ đẹp tình người và khát vọng sống mãnh liệt của người nông dân ngay trên bờ vực của cái chết”. Trái lại với giá trị hiện thực của tác phẩm thì nhận định này đã nêu lên được giá trị nhân đạo ẩn chứa bên trong Vợ nhặt. Rằng dẫu có khốn khổ, đói kém tưởng như đã rất gần với cái chết, thế nhưng con người Việt Nam ta vẫn chưa khi nào quên đi lòng yêu thương, khát vọng sống mãnh liệt, sâu xa hơn cả là niềm tin vào một tương lai tươi sáng, niềm tin vào cách mạng sẽ thay đổi cuộc đời họ, sự giác ngộ cách mạng tiềm tàng của nhân vật chính.

    Trước hết cùng bàn về ý kiến: “Vợ nhặt miêu tả sâu sắc tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trong nạn đói khủng khiếp năm 1945”, đó là một nhận định rất đúng, cũng là một trong hai nội dung chính của tác phẩm. Nói về thời gian và không gian nghệ thuật của truyện, để làm nổi bật chủ đề tư tưởng nhà văn Kim Lân đã chọn năm Ất Dậu (1945), năm ấy đã diễn ra nạn đói khủng khiếp, để cho tới ngày hôm nay nhắc lại người ta vẫn còn cảm thấy rùng mình. Tình cảnh thê thảm của người nông dân trong nạn đói được Kim Lân tái hiện lần lượt thông qua các nhân vật trong tác phẩm. Nhân vật Tràng xuất hiện ở đầu tác phẩm, dẫu không đến nỗi vật vờ sống dở chết dở nhưng hoàn cảnh lại hết sức éo le, là dân ngụ cư, nghèo rớt mồng tơi, phải đi đẩy xe thuê để kiếm sống, lại xấu trai, bên trên còn có một mẹ già phải chăm sóc. Cuộc sống vốn đã quá đỗi khó khăn vất vả, thì Tràng lại đèo bòng thêm Thị, một người vợ nhặt, từ đây cuộc sống của anh càng thêm khó khăn, bởi nuôi thân đã khó, nay lại thêm một miệng ăn, mà theo lời của dân xóm ngụ cư là “biết có nuôi nổi nhau không”. Đêm tân hôn đầy tiếng quạ, tiếng khóc than, bữa cơm đầu tiên với bát cháo cám, sau khi Tràng cưới vợ đều thật thê thảm và u tối, trái ngược hẳn với viễn cảnh hạnh phúc đáng lý ra phải có trong ngày cưới.

    Nhưng có lẽ số phận rẻ rúng, bạc bẽo của con người trong nạn đói năm 1945 được thể hiện rõ nhất phải kể đến nhân vật Thị. Nạn đói đã cướp của thị tất cả, tên tuổi, quê quán, gia đình. Thị vì miếng ăn mà sưng sỉa, cong cớn, rồi cũng vì miếng ăn mà theo không người ta về làm vợ, không lễ ăn hỏi, không hôn lễ. Thị được nhặt như cọng rơm, cọng rác ven đường vậy. Nạn đói khiến con người ta không màng đến thể diện, không màng đến bất cứ một thứ gì nữa, điều quan trọng nhất là phải được sống, Thị sợ phải chết đói như những người mà Thị thấy ở dọc đường đi. Hoàn cảnh và số phận của Thị khiến người ta phải trăn trở và xót xa, buồn cho số phận con người trong những năm tháng khủng khiếp ấy. Cuối cùng là về bà cụ Tứ, một người phụ nữ nghèo đã đến tuổi gần đất xa trời, nhưng không được an hưởng tuổi già, vẫn phải chật vật trong cái đói, cái khổ cùng với mụn con trai duy nhất. Chứng kiến việc con trai bất ngờ có vợ, cụ lại càng thêm lo lắng, xót xa, cụ thương con nhưng không biết làm thế nào để giúp con.

    Những chi tiết miêu tả hiện thực tuy xót xa, buồn thảm nhưng cũng không thể nào làm mờ đi nhưng giá trị nhân đạo sáng rõ trong tác phẩm, ấy là vẻ đẹp đạo lý tình người, niềm khao khát sống, hạnh phúc, niềm tin mãnh liệt vào tương lai sẽ trở nên tốt đẹp hơn trong tác phẩm.

    Nhân vật Tràng tuy thô kệch, xấu xí vậy nhưng lại có một tâm hồn đẹp, anh sống vô tư, hồn nhiên, lại giàu lòng trắc ẩn, xót thương số phận cả Thị rồi dẫn về làm vợ mà không hề mảy may suy nghĩ ngày mai sẽ ra sao. Sau đêm tân hôn, Tràng thấy nhà cửa thay đổi vì có Thị quét tước, anh bỗng thấy mình phải có trách nhiệm chăm sóc gia đình, nghĩ cùng vợ sinh con đẻ cái, như vậy chính cuộc hôn nhân đã khiến Tràng thay đổi một cách tích cực, đồng thời cũng dẫn lối cho sự giác ngộ cách mạng của Tràng. Với nhân vật Thị, từ khi trở thành vợ Tràng, cô rũ bỏ cái vỏ ngoài đanh đá, sưng sỉa, trở thành vợ hiền, dâu thảo, chính Thị đã đem lại làn gió mới cho xóm ngụ cư, cho gia đình cụ Tứ, khiến Tràng trở thành người đàn ông chín chắn. Còn cụ Tứ, sau khi rõ ngọn ngành sự việc, thì lòng thương con đã khiến cụ chấp nhận Thị làm dâu, yêu thương và xót xa cho Thị. Nồi cháo cám trong bữa cơm đầu tiên Thị về làm dâu chính là niềm yêu thương là tình cảm ấm áp mà người mẹ dành cho những đứa con của mình, tuy nó có thể không ngon, nhưng lại đong đầy tình mẹ, thứ tình cảm thiêng liêng, cũng là tình người sâu sắc, thắp lên niềm tin, niềm hy vọng vào một cuộc sống mới.

    Hai ý kiến trên chính là giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm, cả hai vừa đối lập vừa bổ sung cho nhau, tổng hòa đã tạo nên một tác phẩm xuất sắc. Qua ngòi bút Kim Lân, xã hội Việt Nam trước cách mạng tháng 8 hiện lên một cách chân thực và tinh tế, qua những nỗi khốn khổ, bất hạnh trong cuộc sống của các nhân vật chính thì vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trong xã hội cũ lại càng được thể hiện rõ nét và thật đáng trân trọng.

Đề bài 3. 

   Có ý kiến cho rằng: Một trong những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của Kim Lân trong truyện ngắn Vợ nhặt là xây dựng một tình huống truyện độc đáo và hấp dẫn”. Hãy phân tích truyện ngắn Vợ nhặt để chứng minh ý kiến trên. 

    Vợ nhặt là một tác phẩm xuất sắc nhất của Kim Lân. Thành công của tác phẩm này một phần quyết định là do nhà văn đã sáng tạo được một tình huống độc đáo. Đó là tình huống một anh dân nghèo tên là Tràng, xấu trai, lại “nhặt” được vợ trong một vụ đói khủng khiếp ở miền Bắc nước ta vào tháng ba năm 1945.

a. Tình huống này đã gây ngạc nhiên cho cả xóm ngụ cư, cho mẹ Tràng và cả bản thân Tràng nữa, vì hai lí do:

   Một là, một người nghèo túng, xấu xí, dân ngụ cư (bị người làng khinh thường) xưa nay con cái không ai thèm để ý đến, vả lại cũng không có tiền cưới vợ, vậy mà lại tự dưng có vợ, lại là vợ theo hẳn hoi.

   Hai là, giữa lúc đói kém này, người như Tràng, đến nuôi thân còn khó lại còn đèo bồng vợ với con. Cho nên khi Tràng và một người đàn bà lạ mặt về nhà, cả xóm ngụ cư đều ngơ ngác, không hiểu thế nào. Họ chưa thể nghĩ đấy là vợ anh ta và anh ta lại dám lấy vợ vào lúc này.

Đây là đoạn đối thoại thì thầm của những người trong xóm khi nhìn theo Tràng và người đàn bà lạ:

Ai đấy nhi?… Hay là người dưới quê bà cụ Tứ mới lên

– Chả phải, từ ngày còn mồ mả ông cụ Tứ có thấy họ mạc nào lên thăm đâu.

– Quái nhỉ?

Im một lúc, có người bỗng cười lên:

– Hay là vợ anh cu Tràng? ừ khéo mà vợ anh cu Tràng thật anh em ạ, trông chị ta thèn thẹn hay đáo để.

– Ơi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về. Biết có nuôi nổi nhau qua cái thì này không?

Họ cùng im lặng

    Bà cụ Tứ, mẹ Tràng, lại còn ngạc nhiên hơn nữa khi trông thấy người đàn bà kia ở trong nhà với con mình: “Quái sao có người đàn bà ở trong  ấy nhì?… Sao lại chào mình bằng u?… ơ hay, thế là thế nào”.

    Đến ngay chính Tràng cũng ngạc nhiên: “Nhìn thị ngồi ngay giữa nhà, đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không  phải thế. Ra hắn đã có vợ rồi đây ư? Hà! Việc xảy ra thật hắn cũng không ngờ, hắn cũng chỉ tầm phà tầm phào đâu có hai bận ấy thế mà thành vợ thành chồng”.

    Thậm chí sáng hôm sau ngày có vợ, anh ta vẫn chưa hết bàng hoàng: việc hắn có vợ đến hôm nay vẫn còn ngỡ ngàng như không phải.

b. Đây là một tình huống oái oăm, không biết nên vui hay buồn, không biết mừng hay lo. Mọi người đều có tâm trạng ấy, từ những người dân xóm ngụ cư đến chính Tràng nữa: “anh chàng cũng chợt nghĩ: thóc gạo này ngay cả đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng”.

    Đặc biệt là cụ Tứ với tâm trạng đầy mâu thuẫn vì “lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao cơ sự”:một mặt cũng tủi vì gặp phải lúc đói khổ này người ta mới lấy đến con mình, đồng thời lại rất lo vì: “biết chúng có nuôi nhau qua cơn đói khát này không”. “Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này thương quá

Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt chảy xuống ròng ròng.

c. Đặt nhân vật vào tình huống éo le như vậy, Kim Lân đã làm nổi bật được nhiều ý nghĩa sâu sắc cho tác phẩm của mình.

– Một là, không cần đến những lời kếi tội to mà vẫn tố cáo được tội ác của bọn phát xít Nhậi và tay sai của chúng đã gây ra nạn đói khủng khiếp 1945. Người dân lao động dường như không ai thoát khỏi cái chết. Bóng tối phủ xuống mọi xóm làng. Trong hoàn cảnh ấy giá trị một con người thật rẻ rúng. Người ta có thể có vợ chỉ nhờ mấy bát bánh đúc ngoài chợ. Đúng là “nhặt” được vợ như cách nói của tác giả.

– Hai là, tâm trạng của bà mẹ nghèo thật tội nghiệp: không ai hiểu con, thương con và lo cho con bằng người mẹ, nhưng vì nghèo khổ nên thương con mà chẳng làm được gì cho con.

– Ba là, người dân lao động, dù ở tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết, vẫn khát khao hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào cuộc sống và vẫn hi vọng ở tương lai. Giữa lúc đói kém, vợ chồng Tràng đã lấy nhau vì thế bà cụ Tứ tuy đầy lo lắng, nhưng niềm vui vẫn nở trên khuôn mặt. “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”, bà cụ tin như thế. Và bà cụ trở nên “nhẹ nhõm”, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên. Bà lão xăm xăm thu dọn, quét tước nhà cửa. “Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp nhà cho quang quẻ, nề nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có khấm khá hơn.”

Đó là ý nghĩa nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

Đề bài 4

    Chứng minh nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn Vợ nhặt vô danh nhưng không vô nghĩa, bóng dáng của chị gợi lên sự một sự ấm áp mang đến một làn gió tươi mát cho cuộc sống tối tăm bên bờ cái chết.

    Kim Lân là một trong số những cây bút truyện ngắn xuất sắc của nền văn học hiện đại Việt Nam. Với vốn hiểu biết sâu sắc và tình yêu thương với nông thôn, nông dân, những trang truyện ngắn của ông luôn thấp thoáng hiện lên cuộc sống và con người làng quê Việt dẫu nghèo khổ, thiếu thốn nhưng vẫn luôn ánh lên những vẻ đẹp tâm hồn đáng trân quý, “Vợ nhặt” là một trong số những tác phẩm như thế. Đọc truyện ngắn “Vợ nhặt”, chắc hẳn người đọc sẽ không thể nào quên được nhân vật người vợ nhặt – một người vô danh nhưng không vô nghĩa, hình ảnh của chị gợi lên một sự ấm áp, mang đến một luồng khí mới trong cuộc sống tăm tối, bên bờ vực của cái chết.

    Trước hết, nhân vật người vợ nhặt trong truyện ngắn “Vợ nhặt” là một người vô danh. Như chúng ta đã biết, nhân vật người vợ nhặt xuất hiện trong tác phẩm với một con số không tròn trĩnh – không nhà cửa, không gia đình, không quê hương, không họ hàng thân thích. Và hơn thế nữa, xuất hiện xuyên suốt toàn bộ tác phẩm ấy vậy mà người vợ nhặt ấy cũng không có tên gọi, không có tuổi tác. Từ đầu đến cuối truyện ngắn “Vợ nhặt”, Kim Lân đã gọi nhân vật bằng những cái tên, những biệt danh khác nhau – cô ả, người đàn bà, thị, vợ anh cu Tràng, chị ta,… Như vậy, trong suốt tác phẩm, người vợ nhặt chính là nhân vật vô danh, bởi lẽ không ai có thể biết, có thể định vị được tên, tuổi, quê quán, họ hàng của chị là ở đâu.

    Nhưng nhân vật người vợ nhặt vô danh nhưng không vô nghĩa bởi người phụ nữ đấy đã mang đến cho cuộc sống tối tăm mịt mờ, bên bờ cái chết của mẹ con Tràng một hơi ấm áp, một làm gió mới đầy tươi mát. Trước hết, thị đã đem đến cho cuộc sống của Tràng và bà cụ Tứ niềm vui, niềm hạnh phúc và hơi ấm của gia đình ngay trong chính những ngày tăm tối của nạn đói năm 1945. Thị gặp Tràng trong một hoàn cảnh rất đặc biệt và rồi chỉ với và ba câu hò vui thị đã theo không Tràng về làm vợ. Người phụ nữ với cái vẻ ngoài “chao chát, chỏng lỏn”, với “gương mặt lưỡi cày gầy xám xịt”, “cái ngực gầy xẹp lép” đã thực sự thay đổi khi theo Tràng về nhà làm vợ. Trên đường về nhà, thị đã thực sự thay đổi, có cái gì đó ngượng nghịu, xấu hổ, “chân nọ nước díu cả vào chân kia” nhưng cũng chính sự thay đổi, sự ngượng nghịu ấy của thị đã khiến cho Tràng cảm thấy vui hơn bao giờ hết, niềm vui ấy của Tràng lộ rõ trên gương mặt của hắn – “vẻ mặt phớn phở”, “vừa đi hắn vừa tủm tỉm cười nụ một mình”. Dường như, việc thị theo Tràng về nhà làm vợ đã mang đến cho Tràng niềm vui, niềm hạnh phúc không nguôi. Không dừng lại ở đó, sự xuất hiện của người vợ nhặt trong ngôi nhà của mẹ con Tràng cũng khiến cho bà cụ Tứ vui mừng – những giọt nước mắt của bà vừa là giọt nước mắt của sự tủi phận nhưng có lẽ hơn thế, đấy là giọt nước mắt của niềm vui, của niềm hạnh phúc khi Tràng – con trai của bà lại có thể có được vợ ngay trong chính những ngày tăm tối của nạn đói khủng khiếp. Đặc biệt, hơi ấm mà thị mang đến cho Tràng và bà cụ Tứ càng thể hiện rõ trong buổi sáng ngày hôm sau – khi mọi người thức dậy. Sáng hôm sau, thị thức dậy sớm, dọn dẹp nhà cửa cùng mẹ chồng và để rồi, khi tỉnh giấc, chứng kiến khung cảnh bình yên ấy, trong Tràng hiện lên một cảm giác rất đặc biệt – “cảm thấy yêu thương, gắn bó và thấy mình phải có trách nhiệm với cái nhà này”. Còn với bà cụ Tứ bà cảm thấy nhẹ nhõm và tươi tỉnh hơn ngày thường, “cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”. Và để rồi, trong bữa cơm ngày đói, chỉ có rau chuối thái rối, “một đĩa muối ăn với cháo”, một nồi chè khoán nhưng cả nhà ai nấy đều ăn rất ngon miệng và trong bữa cơm ấy họ toàn nói với nhau những chuyện vui, chuyện tươi tốt, hạnh phúc ở tương lai. Và điều đó, xét đến cùng là niềm tin vào tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn. Như vậy, thị đã mang đến trong mái nhà của mẹ con Tràng một sự ấm áp, một làn gió mới đầy ắp tình yêu thương và hạnh phúc, để thắp lên trong họ lòng lạc quan, yêu đời, khát vọng sống và niềm tin về một ngày mai tươi sáng, tốt đẹp hơn dẫu rằng họ đang trên làn ranh mỏng manh giữa sự sống và cái chết.

    Tóm lại, trong truyện ngắn “Vợ nhặt” nhà văn Kim Lân đã xây dựng thành công nhân vật người vợ nhặt – người phụ nữ vô danh nhưng không vô nghĩa. Đồng thời, qua nhân vật người vợ nhặt đã góp phần thể hiện một cách sâu sắc bức tranh số phận con người trong nạn đói năm 1945 và tấm lòng của nhà văn đối với những số phận ấy.

Đề bài 5 

    Có ý kiến cho rằng Vợ nhặt của Kim Lân là một bài ca sự sống. Anh (chị) hãy phân tích tình huống truyện của tác phẩm này để làm nổi bật ý kiến trên.

    Là một truyện ngắn hay, Vơ nhặt của Kim Lân đã thu hút sự chú ý của đông đảo người yêu văn chương. Không ít vẻ đẹp sâu xa của văn phẩm đã được khám phá. Riêng một khâu tình huống truyện không thôi, người ta cũng đã “nhặt” được khá nhiều điều lí thú. Song, người đến sau không phải đã hết hi vọng. “Muốn ăn cơm trắng mấy giò này…” câu hò của Tràng, một cách không ngờ, dường như muốn mời mọc… cả những cây bút nghiên cứu phê bình.

    Tôi nhớ Nguyễn Minh Châu ở đâu đó, bằng cách nói hình ảnh đặc thù của người sáng tác, đă xem tình huống truyện như “một khúc của đời sống”, ” một lát cắt của đời sống” mà qua đó ta có thể hình dung trăm năm của đời thảo mộc. Ý ông muốn nhấn mạnh vào tính nghịch lí của nó: tuy chỉ là một khoảnh khắc ngắn ngủi, song lại giúp người ta có thể hình dung được diện mạo toàn thể của cả đời sống. Người làm lí luận thì hình dung tình huống như hạt nhân cấu trúc của thế loại truyện ngắn, nó sắm vai một nhà tổ chức đối với toàn bỏ thiên truyện. Chung qui, tình huống vẫn được hiểu như một loại sự kiện đặc biệt của đời sống được sáng tạo ra theo hướng lạ hoá. Tại đó, vẻ đẹp nhân vật được hiện hình ảnh sắc nét, ý nghĩa tư tưởng được phát lộ toàn vẹn. Người viết có được một tình huống đặc sắc là đã có được một tiền đề khá chắc chắn cho thành công của một truyện ngắn. Còn người đọc nắm được tình huống thì xem như có một chìa khoá tin cậy để mở vào thế giới bí ẩn của tác phẩm.

    Dễ thấy rằng hạt nhân của truyện ngắn Vợ nhặt là một cuộc hôn nhân kì lạ. Thực ra, hôn nhân kì lạ và những mối kì duyên vốn là mô típ rất phổ biến trong văn chương nghệ thuật, ở văn học dân gian, những mối tình Tiên Dung – Chử Đồng Tử. Từ Thức – Giáng Hương, Thạch Sanh – Quỳnh Nga, Lọ Lem – Hoàng Tử, Cô Tấm – Nhà vua, Sọ Dừa – Con gái Phú Ông. V. V… Hay những cuộc hôn nhân trong thế giới Truyện Nôm những Tống Tràn Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa, Hoàng Trừu…, cả trong văn học viết, thậm chí cả trong văn hoc hiện đại nữa bao mối tình Chí Phèo – Thị Nở, Nguyệt – Lãm, Mị – A Phủ…, dù ít dù nhiều, đều có dáng dấp của những mối kì duyên. Nghiên cứu hệ thống mô típ này sẽ hứa hẹn không ít những thú vị cả về quan niệm nhân sinh lẫn tư duy nghệ thuật. Nằm trong mạch ấy, Vợ nhặt của Kim Lân có những sắc thái rất riêng. Nói hôn nhân trong Vợ nhặt kì lạ ít nhất vì ba lẽ. Một là, sự đảo lộn về giá trị: Tràng – một gã trai nghèo khổ, thô kệch, lại là dân ngụ cư, lâu nay ế vợ,, bỗng dưng “nhặt” được vợ, mà lại là vợ theo không. Hai là, sự ngược đời: Tràng lấy vợ lúc không ai lại đi lấy vợ – giữa những ngày nạn đói đang lăm le cướp đi mạng sống của mỗi người. Ba là, nghịch lí: một đám cưới thiếu tất cả mà lại như đủ cả. Những điều này quyết định đến việc tổ chức mạch truyện và cả cấu tứ của thiên truyện nữa.

    Không phải ngẫu nhiên mà mạch truyện là một chuỗi ngạc nhiên kế tiếp. Khi Tràng dẫn vợ về thì cả xóm ngụ cư ngạc nhiên. Thoạt tiên là lũ trẻ. “Lũ ranh” ấy bỗng nhiên mất hẳn đi một bạn chơi, khi có đứa chợt nhận ra quan hệ của họ là “chồng vợ hài”. Còn đằng người lớn thi ngớ ra “không tin được dù đó là sự thật”. Khi đã tỏ, họ tò mò thì ít mà ái ngại nhiều hơn: ” Giời đất này còn rước cái của nợ đời về”! Tiếp đó là bà cụ Tứ. Tràng lấy được vợ là điều bà đều mong ngày tưởng, vậy mà khi sự xảy đến, bà hoàn toàn không tin nổi – không tin vào mắt mình (ngỡ mình trông gà hoá cuốc), không tin vào tai mình (quái, sao lại chào mình bằng “u”). Song, đáng nói nhất vẫn là Tràng. Là “thủ phạm” gây ra tất cả, mà vẫn không hết ngac nhiên (chẳng những cứ đứng “tẩy ngầy” giữa nhà tối hôm trước mà đến tận hôm sau, qua một đêm có vợ rồi mà “hắn cứ lơ lừng như người đi ra từ trong một giác mơ”). Trong chuỗi ngạc nhiên ấy, ta đọc thấy những định nghĩa xót xa về người vợ: Vợ là cái của nợ đời. Vợ là gánh nặng phải đèo bòng. Có thể nói, chưa có ở đâu giá trị của người vợ lại thấp kém, lại bèo bọt như hoàn cảnh này. Và cũng chưa bao giờ, hạnh phúc lại có một nghĩa lí đáng sợ như ở đây: hạnh phúc là một mạo hiếm, một nguy cơ. Như vậy, tạo được tình huống này, tác phẩm đã tố cáo được tội ác của phát xít Nhật, kẻ đã gây ra nạn đói khủng khiếp, không chỉ cướp đi sinh mệnh của mấy triệu người Việt Nam, mà còn đánh tụt giá người xuống hàng cỏ rác bọt bèo. Mặt khác cũng toát lên được niềm tin vào bản chất Người trong con người: dù hoàn cảnh muốn biến con Người thành Bèo Bọt, nhưng Con Người vẫn không chịu làm Bèo Bọt mà vẫn kiên nhẫn làm Người. Nghĩa là một tình huống giúp ta hiểu sâu tầm vóc nhân văn của tác phẩm.

    Bởi vì đó là tình huống: đùa mà không đùa. Hôn nhân là một chuyện hệ trọng và thiêng liêng vào bậc nhất của đời sống nhân sinh, ấy thế mà ở đây, hoàn cảnh tai ác và cả con người nữa như muốn biến thành trò đùa – “Tràng chỉ tầm phơ tầm phào đâu có hai lần thế mà thành truyện. Nếu trước sau chỉ là một trò đùa, thì Con Người đã thành Bèo Bọt. May thay, các nhân vật đã bước ra khỏi trò đùa kia với tư cách Con người. Một diễn biến như thế, có thể thấy về bản chất là: Cảnh ngộ cứ lâm le Bèo Bọt hoá Con Người, nhưng con người đã vượt lên cả cảnh ngộ lẫn bàn thân mình, vẫn cứ làm người.

    Nhìn từ phía cô “vợ nhặt”, cái đói quay quắt ném cô vào một đời sống vất vưởng. Đời sống vất vưởng nghiệt ngã đã biến cô thành một kẻ chanh chua, chao chát, cong cớn, trơ tráo, chằng những làm biến dạng tính cách con người, nạn đói khủng khiếp còn như một cơn lủ lớn đã cuốn phăng đi bao sinh mệnh. Chới với giữa dòng lũ, tiếng nói thường trực nhất, tất nhiên, là tiếng nói của băn năng Cần phải sống đã, cần phải bám ngay vào tất cả những gì có thể bám được. Và bản năng ham sống đã xui khiến cô làm tất cả những giì để có thế thoát khỏi cái chết đang đe doạ từng giờ từng phút. Thật may mắn, cô đã bám vào được một cái cọc, thoạt đấu có vẻ ơ hờ không đâu, té ra lại vững vàng đáo để. Cái cọc ấy có tên là Tràng. Đầu đuôi, chưa phải là bám vào Tràng, hay bám vào cái xe bò, mà là bám vào một cái rất không đâu, rất mong manh vô hình, ấy là câu hò của Tràng. Để làm được kỳ công ấy cô đã biến một câu hò vu vơ giữa cho thành một lời hứa hẹn thật (Muốn ăn cơm trắng mấy giò này. lại đây mà đẩy xe bò với anh nì”), quyết định nhất là, biến một lời rủ rê đùa thành một lời cầu hôn chính thức <"Làm đếch gì đã có vợ. Nói thế chứ muốn về với tớ thi sửa soạn các thứ rồi cùng về!). Có phải bản năng đã lấn át mất danh dự? Nếu quả thực chỉ có thế, thì có cũng chỉ là một thứ Bèo Bọt, không hơn không kém. Nhìn kĩ, bên trong chưa hẳn đẫ mất hết lòng tự trọng. Nếu hoàn toàn không còn ý thức ấy, hẳn ở cô không thể có những cung cách như khi nhìn thấy căn lều rách nát của mẹ con Tràng. "Thị nén một tiếng thở dài trong ngực", không thể ngổi mớm trên giường ôm khư khư cái thúng trong lòng, không thể đêm khuya cứ ngồi bán thân bất động trong khi Tràng đã sốt ruột leo lên giường định vào đém tân hôn. Nhất là cái cung cách ứng xử vào sáng hôm sau: không phải việc lao vào dọn dẹp cùng với mẹ chồng từ sáng sớm – việc ấy nghĩ cũng bình thường, mà là khi nhận bát "chè khoán" từ tay bà cụ Tứ, thị chợt "sầm mặt lại", sau đó "và ăn một cách điềm nhiên". Thái độ và cung cách như thế chỉ có thể có ở người có ý thức về cảnh ngộ mình cùng thân phận mình. Té ra, những chao chát, chỏng lòn, cong cớn kia chỉ là những du nhập từ bên ngoài vào, như một thứ vũ khí để tự vệ để đối phó với cảnh sống vất vưởng thôi. Bản tính sâu xa đến giờ mới hiện ra, mà có lẽ cuộc hôn nhân này mới làm hổi sinh thì phải! Như thế, nảy nở bởi một trò đùa, nhưng bên trong con người vốn dỉ là một cái mầm nghiêm túc luôn khát sống và khát làm Người. Ta mới hiểu được vì sao, cô tự rơi vào một hoàn cảnh rất dễ bị khinh rẻ, nhưng người đọc và cả người trong truyện không thấy khinh mà chỉ thấy thương, rồi thấy quí, dù lắm lúc thấy… buồn cười.

    Nhìn từ phía Tràng, tình huống này không hẳn là lưỡng lự giữa sự đùa cợt phất phơ và ý định nghiêm túc, mà ở chiều sâu, chính là sự phân vân giữa một bên là sự khước từ của lòng vị kỉ, một bên là sự cưu mang của lòng vị tha. Sau những gì đã” gây ra” bởi hàng loạt những trò đùa tầm phào, Tràng có “chọn”, nghĩa là thoáng lo sợ và ân hận của kẻ đã trót đẩy trò đùa đi quá trớn. Nếu lúc ấy, Tràng bỏ của chạy lấy người, thì vể lí, chẳng ai trách được gã trai ấy Nhưng tình người trong gã thì chắc mất mát đi nhiều lắm. Và Tràng cũng chẳng hơn thứ Bèo Bọt là bao. Song, Tràng đã “Chặc, kệ!” Có vẻ như một quyết định không nghiêm túc, nhưng phóng lao phải theo lao vậy. Đến đây cả người đọc thừa thãi niềm tin nhất, cũng chưa thể tin là rồi ra có thế chắc chắn, dù ngẫm cho cùng, họ đến với nhau, bề ngoài thì ngẫu nhiên, không đâu, mà bên trong lại là tất nhiên: người này cần người kia để có một chỗ dựa mà qua thời đói kém, con người kia cũng cần đến người này để mà có vợ, để biết đến hạnh phúc làm người. (Nếu không “gặp cái nước nay, người ta mới lấy đến ” Tràng, thì tình trạng ế vợ trường kì của gã trai đây còn khuya mới đến hồi kết. thúc!). Và cuối cùng, nằm ngoài mọi tưởng tượng và ngờ vực, hai que củi trôi dạt ấy đã chụm vào nhau, đã nhen nhóm lên thành bếp lửa. Sau cái tiếng “Chặc, kệ!” đó, mọi tầm phơ tầm phào đã khép lại, nhường chỗ hoàn toàn cho sự nghiêm trang. Hãy chú ý đến việc làm ngay sau đó của Tràng. Còn bao nhiêu tiền, Tràng dôồ vào ba việc: mua cho vợ một cái thúng, ăn với nhau một bừa cơm và mua một chai dầu. Hai việc đầu là thiết thực. Việc thứ ba xem chừng xa xỉ, cứ như một thứ chơi sang, chơi ngông. Hoàn cảnh ngặt nghèo ấy, không có đèn thắp, có chết đâu! Nhưng chính cái việc ngỡ như xa xỉ kia lại nói với ta rất nhiều về tấm lòng của Tràng. Thì ra, không phải lấy dược vợ quá dễ dàng thỉ Tràng cũng rẻ rúng hạnh phúc của mình. Nếu rẻ rúng, Tràng cũng chỉ là Bèo Bọt. Trái lại, Tràng rất trân trọng. “Vợ mới vợ miếc thì cũng phải sáng sủa một chút chứ chả nhẽ chưa tối đã rúc ngay vào”, Cách nói có cái vẻ bỗ bã của một gã trai quê, nhưng động cơ thỉ không thiếu cái nghiêm trang của một người giai tử tế tối tân hôn. Hôm nay phải là một ngày khác hẳn. Phài là một sự kiện của đời mình. Ngày mình có vơ, nhà cần phải sáng. Mua chai dấu chính là nỗ lực để đàng hoàng ở cái mức mình có thể có được vào lúc này. Kể từ khi ấy, họ gắn bó với nhau chân thành và nghiêm trang như bất cứ đôi lứa nào trên cõi đời này. Chỉ cần làm một so sánh nhỏ với chương “Hạnh phúc của một tang gia” trong Sổ đỏ của Vũ Trọng Phụng cũng có thể thấy ngay nghĩa lí sâu sa của nó. Đám tang cụ cố tổ cực kì long trọng to tát, thừa thãi mọi đồ lễ và nghi lễ hình thức. Chỉ thiếu duy nhất một thứ, ấy là lòng xót thương dành cho người quá cố. Mà thiếu điều này, mọi thứ khác chi còn là trò loè bịp rởm đời trống rỗng và vô nghĩa. Nó là hình ảnh của một xã hội đồi bại, cũng là niềm phẫn uất, là nỗi bi quan của Vũ Trọng Phụng về cái cuộc đời vô nghĩa lí chó đểu đó. Còn cuộc hôn nhân này lại thiếu tất cả, kể cả những nghi lễ tối thiểu nhất của một đám cưới. Thế nhưng, nó lại có cái quan trọng nhất, cốt lõi nhất: đó là sự thương yêu gắn bó thực lòng. Mà đã có đươc điều này, thì những cái thiếu kia đều không còn đáng kể, thậm chí đều trờ lên vô nghĩa. Nên đây là hình ảnh của Tình Người, của tư cách Người trong con người. Cuộc hôn nhân như thế chẳng phải là niềm tin mãnh liệt vào phẩm giá Người bất diệt của Kim Lân đó sao?

    Từ một góc nhìn nào đó ta còn thấy tình huống này là đám cưới ở giữa đám ma. Thậm chí, đám cưới nhỏ nhoi giữa một đám ma khổng lổ. Là việc hai cá thể tự nguyện gắn bó với nhau, lập nên một gia đinh rồi sinh con đẻ cái, đám cưới được coi như sự kiện khởi đầu một sự sống mới trong nhân gian. Còn đám ma lại là sự kiện kết thúc một chu trình sống trên cõi đời này Tình huống “vợ nhặt”, do đó, còn có thể gọi là sự sống nảy sinh giữa cái chết. Có thể Kim Lân chưa chắc đã ý thức thật đầy đủ về khía cạnh này. Nhưng ý nghĩa khách quan của tác phẩm thì toát lên điều đó. Không phải ngẫu nhiên mà trong thiên truyện, ta thấy nổi lên song hành hai cuộc giao tranh: Sự sống với cái chết và Ánh sáng với Bóng tối.

    Cuộc hôn nhân hình thành một phần lớn là do Cái Chết đến đuổi. Khi dắt nhau về xóm ngụ cư, họ đi trong sự bao vây của cái chết. Cái chết hiện ra với nhiều bộ mặt, nhiều biến thể: khi thì trong hình ảnh xác những người chết đói nằm la liệt trên bãi chợ, khi thì ở bóng những người đói rật rờ như những bóng ma đằng sau gốc đa hay gốc gạo, khi lại hiện ra trong hình ảnh bày quạ bu kín trên ngọn cây, chỉ chờ những người đói đổ xuống ùa tới moi gan rỉa thịt, khi lại hiện trong hình ảnh khói của những nhà đốt đống rấm để xua mùi tử khí… Cái Chết truy đuổi rình rập quanh bước chân của họ. Thậm chí, khi đôi trai gái sắp lên giường ngủ, nó vẫn chưa chịu buông tha. Đúng lúc ấy, họ nghe thấy tiếng khóc hờ của những nhà mới có người chết tỉ tê lọc qua kẽ vách. Nhưng sự sống không bao giờ chán nàn. Sáng hôm sau, tất cả các thành viên trong gia đình ấy đã cùng lao vào một việc có thể nói là không thiết thực, bởi không có một hiệu quà kinh tế trực tiếp gì: dọn dẹp nhà cửa. Nhưng cái việc có vẻ chưa cấn thiết một ti nào ấy lại nói với ta rất nhiều về thái độ sống của họ. Họ không muốn tạm bợ, mà muốn đàng hoàng. Họ đang chuẩn bị cho cuộc sống lâu dài. Họ bướng bỉnh tuyên chiến với nạn đói. Ở người mẹ già nua sự sống ngỡ như đã khô cằn đi. lại như bừng lên một sức sống mới Bà xăm xắm lao vào công việc, hay cười, hay nói và toàn nói về tương lai. tương lai gần còn chưa hiện ra đã lại nghĩ đến nhưng tương lai xa hơn nữa ”Tràng à. lúc nào có tiền mua lấy đôi gà. Tao tính cái đám đất đầu bếp kia nếu làm chuồng gà thì rất tiện. Này, ngoảnh đi ngoảnh lại sẽ cỏ ngay đàn gà cho mà xen”. Rõ ràng, sự sống khỏng đầu hàng cái chết. Sự sống đang kiên nhẫn vượt lên cái chết.

    Nhưng, tinh vi nhất vẫn là cuộc giao tranh thứ hai: Ánh sáng với Bóng tối. Phần thắng cuối cùng thuộc vể Ánh sáng. Điều này hiện rõ ngay trong kết câu. Có ngẫu nhiên không khí câu chuyện mở ra lúc trơi nhá nhem tói và kết thúc vào sáng hôm sau, khi mặt trời lên cao bằng con sào? Và hệ thống tình tiết dọc theo mạch truyện cũng không hẳn là ngẫu nhiên. Trước khi đôi trai gái dắt nhau về, bao chum lên xóm ngụ cư là một bầu không khí âm u, ảm đạm bởi từ khí vây quanh cùng bao ánh mắt lo âu. Nhưng họ về đến đâu ánh sáng theo về đến đó. Thoạt tiên là có một cái gì tươi mát thổi vào đám người ngụ cư làm cho gương mặt hồc hác u tối của họ bỗng rạng sáng lên. Rổi đêm ấy căn lều lâu nay bóng tối vẫn ngự trị của mẹ con bà cụ Tứ cùng sáng lên – bằng ngọn đèn từ chai dầu của Tràng? Không, sâu xa hơn, là bằng nguồn sống bùng lên từ cuộc hồn nhân ấy. Sáng hôm sau, gương mặt lâu nay u ám bủng beo của bà cụ Tứ cũng sáng lên Cảnh vật bao quanh căn lều cũng sáng sủa quang đãng… Tuy nhiên, chai dầu của Tràng giỏi lắm cùng chỉ xua đi được Bóng tối trong căn lều nhỏ bé ấy thôi. Còn Bóng tối bao trùm lên toàn bộ thế giới của câu chuyện thì ngọn đèn dầu kia không xua tan nổi. Nó phài nhờ vào một nguồn sáng khác lớn lao hơn, mãnh liệt hơn Đó là nguón sáng của lá cờ. Câu chuyện được khép lại bằng hỉnh ảnh lá cờ đỏ sao vàng rực rỡ hiện lên trong tâm trí của Tràng nằm vào mạch ngầm tất yếu đó. Một kết thúc bằng Ánh sáng. Một kết thúc lạc quan.

    Thế là, nảy sinh trên một mảnh đất mà Cái chết đang lan tràn, nhưng sự sống quyết không chán nản. Sự sống vẫn cố bám ghì lấy mặt đất, vẫn kiên nhẫn vươn ra Ấnh sáng, vươn lên phía trước. Sự sống bao giờ cũng mạnh hơn cái chết. Đó chính là bản tính tích cực của sự sống. Điều ấy chẳng phải là dư vị triết lí của Vợ nhặt, chỗ sâu sa nhất trong ý nghĩa nhân văn của tác phẩm này sao? Gọi Vợ nhặt là Bài ca sự sống, thiết tưởng cũng khỏng phải là đề cao quá đáng.

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button