Lịch SửLớp 12

Năm 1946, Huỳnh Thúc Kháng thay mặt Hồ Chí Minh giữ chức vụ chủ tịch nước khi Hồ Chí Minh đi đâu?

Câu hỏi: Năm 1946, Huỳnh Thúc Kháng thay mặt Hồ Chí Minh giữ chức vụ chủ tịch nước khi Hồ Chí Minh đi đâu?

A. Pháp

B. Trung Quốc

Bạn đang xem: Năm 1946, Huỳnh Thúc Kháng thay mặt Hồ Chí Minh giữ chức vụ chủ tịch nước khi Hồ Chí Minh đi đâu?

C. Liên Xô

D. Ấn Độ

Trả lời: 

Đáp án đúng: A. Pháp

Năm 1946, Huỳnh Thúc Kháng thay mặt Hồ Chí Minh giữ chức vụ chủ tịch nước khi Hồ Chí Minh đi Pháp.

Giải thích:

Năm 1946, khi Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, Huỳnh Thúc Kháng được cử làm Quyền Chủ tịch nước Việt Nam. Thời gian này ông còn là Chủ tịch Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam. 

Trước ngày đi Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn lại cụ Huỳnh Thúc Kháng mấy câu tâm huyết: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở cụ cùng với anh em giải quyết cho. Mong cụ “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Niềm tin của Người đã được đặt đúng chỗ. Suốt thời gian Người đi Pháp, ở trong nước, quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng đã luôn giữ vững phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong giải quyết các công việc quốc nội, giữ yên được thế phát triển của cách mạng trong thời điểm hiểm nghèo, góp phần ngăn chặn và đập tan âm mưu khiêu khích, phá hoại của các thế lực phản động.

Cùng THPT Ninh Châu tìm hiểu thêm về Huỳnh Thúc Kháng nhé!

Cụ Huỳnh Thúc Kháng hiệu Mính Viên, tự Giới Sanh, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1876 tại làng Thạnh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình (nay là xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam). Thân phụ là cụ Huỳnh Văn Phương (hiệu Tấn Hữu), một nhà nho theo nghiệp đèn sách. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Tình, người cùng quê, một phụ nữ mực thước, đảm đang.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng vốn nổi tiếng thông minh, học giỏi và sớm đạt giải cao trong các kỳ thi. Năm 1900, cụ đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương (đứng đầu kỳ thi Hương) và đến năm 1904 đỗ Tiến sĩ. Kế thừa truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc Việt Nam, cụ Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan mà dấn thân vào các hoạt động yêu nước diễn ra sôi nổi những năm đầu thế kỷ XX. Năm 1905, cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng với Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp đi tìm hiểu tình hình thực tế ở phía Nam, xem xét dân tình, sĩ khí, đề xướng tân học và tìm bạn cùng chí hướng. Năm 1906, trở về Quảng Nam khởi xướng, lãnh đạo phong trào Duy tân. Năm 1908, cụ Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp bắt, đày đi tù Côn Đảo suốt 13 năm (1908-1921). Sau khi được trả tự do, cụ Huỳnh Thúc Kháng lại tích cực hoạt động đòi quyền lợi cho dân, cho nước. Năm 1926, ông đắc cử dân biểu rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kì. Trong ba năm hoạt động ở Viện, ông cương quyết tranh đấu trong nghị trường, rồi nhân việc chống lại Khâm sứ Pháp Jabouille, ông từ chức. Năm 1927, ông sáng lập ra nhà in và báo Tiếng Dân, suốt thời gian này Ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo tại Huế cho đến khi tờ báo Tiếng Dân bị đình bản (1943).

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, trân trọng tài năng, đức độ của cụ Huỳnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời cụ tham gia nội các Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đầu năm 1946, cụ làm Chủ tịch hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam. Tháng 5/1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Pháp, cụ được giao chức vụ Quyền Chủ tịch nước (31/5/1946-20/10/1946). Với cương vị Quyền Chủ tịch nước, cụ Huỳnh đã tham gia giải quyết nhiều công việc, góp phần quan trọng điều hành bộ máy Nhà nước, chủ tọa các phiên họp của Hội đồng Chính phủ

Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (tháng 12/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh cử cụ Huỳnh làm Đặc phái viên của Chính phủ đi kinh lý miền Trung để giải thích đường lối kháng chiến, kêu gọi toàn dân ủng hộ Chính phủ, ủng hộ cách mạng. Đầu năm 1947, tiếp tục hành trình đi kinh lý miền Trung, do tuổi cao, sức yếu và lâm bệnh nặng, cụ Huỳnh qua đời tại tỉnh Quảng Ngãi ngày 21/4/1947 trong niềm tiếc thương vô hạn của đồng bào, cán bộ, chiến sĩ cả nước. Theo tâm nguyện của cụ, nhân dân đã an táng cụ trên đỉnh núi Thiên Ấn. Nơi đây là đệ nhất thắng cảnh của Quảng Ngãi – “Thiên Ấn niên hà” (Ấn trời đóng xuống sông).

Quan điểm nổi bật của Huỳnh Thúc Kháng là đề cao tinh thần “dân chủ pháp quyền”, bài trừ chế độ quân chủ, xây dựng thể chế dân chủ, thực hiện dân quyền trong đó trước hết quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng cho nhân dân. Đặt trong bối cảnh xã hội Việt Nam bấy giờ, đó là những quan điểm hết sức mới mẻ và tiến bộ, góp phần thức tỉnh tinh thần dân tộc, ý thức dân chủ ở nước ta đầu thế kỉ XX. Những quan điểm tiến bộ đó dù mang xu hướng ôn hòa đã vấp phải sự chống đối quyết liệt của Nam triều và chính quyền thực dân. Như người “bừng tỉnh giấc mơ”, Huỳnh Thúc Kháng đã xin từ chức cuối năm 1928, trước khi hết nhiệm kỳ chứ nhất định không chịu làm con rối để chúng giật dây.

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 12, Lịch Sử 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button