Lớp 12Ngữ Văn

Nhận định về Xuân Diệu

Bạn đang gặp khó khi làm bài văn Nhận định về Xuân Diệu? Đừng lo! Hãy tham khảo những bài văn mẫu đã được tuyển chọn và biên soạn với nội dung hay nhất của THPT Ninh Châu dưới đây để nắm được cách làm cũng như bổ sung thêm vốn từ ngữ nhé. Chúc các bạn có một tài liệu bổ ích!

Nhận định 1: Bàn về thơ Xuân Diệu, nhà phê bình Hoài Thanh đã khẳng định: “Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn người đều nồng nàn tha thiết”.(Hoài Thanh và Hoài Chân – Thi nhân Việt Nam)

   Anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định trên đây thông qua sự hiểu biết về thơ Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám.

   Nếu phải chọn một nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới (1930-1945), mọi người sẽ không chút ngần ngại, chọn ngay Xuân Diệu, một nhà thơ từng được nhà phê bình nổi tiếng Hoài Thanh xem là mới nhất trong các nhà thơ mới. Bàn về thơ của nhà thơ tài danh này, nhà phê bình tác giả quyển Thi nhân Việt Nam cũng đã khẳng định:

   Thơ Xuân Diệu còn là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này, Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết.

Bạn đang xem: Nhận định về Xuân Diệu

   Trước Cách mạng tháng Tám, Xuân Diệu đã được tôn vinh là “Ông hoàng thơ tình” với hai tập thơ: Thơ thơ (1938) và Gửi hương cho gió (1945). Hai tập thơ này cùng chung một mạch cảm xúc là say đắm tình yêu và khao khát hạnh phúc: cuồng nhiệt. Đủ thấy nhà thơ đã tìm nguồn cảm hứng lãng mạn ở ngay cuộc đời trần thế. Thơ Xuân Diệu là thơ của một tâm hồn rất yêu đời, yêu tha thiết cuộc sống. Đối với tác giả tập Thơ thơ, điều kì diệu nhất là cuộc sống, điều đẹp đẽ đầy ý nghĩa nhất là con người, tuổi trẻ và tình yêu. Nhà thơ ham sống, tha thiết với đời và khao khát tình yêu đến độ mê say. Thật vậy, Xuân Diệu yêu cuộc sông trần thế này với tất cả về bình dị, trong trẻo và nồng nhiệt nhất bàng một trái tim đắm đuối đến phút cuối cùng.

Hãy để cho tôi được giã từ

Vẫy chào cõi thực đổ vào hư

Trong hơi thở chót dâng trời đất

 Cũng vẫn si tinh đến ngất ngư

(Không đề)

   Chính vì vậy, nhà thơ đã quan sát, ghi nhận, và phát hiện ra được những lạc thú của cuộc sống. Hãy nghe chính Xuân Diệu đã tâm sự: “Với lòng tôi, trời đất chỉ có hai mùa: Xuân với Thu, hai mùa đặc biệt ý nhị, hai mùa có bình minh… Chứ còn từ Đông sang Xuân, sao mà sung sướng thế! Lạnh chuyến ngược lên ấm, từ một điều rất khó chịu chuyển ngược sang một điều rất dễ chịu. Theo lệ ấy, Hè sang Thu là bao nhiêu khoái trá cho giác quan, được rời bó lửa chói chang mà vào trong nước hiền hòa mát mẻ… Đầu xuân là bình minh ấm của lòng tôi. Và ấm hay mát. Thu hay Xuân, lòng cũng rạo rực những tiếng mùa ái tình ghé môi gọi mời trong gió.

(Trường ca-Xuân Diệu)

   Đúng là phải ham sống, biết yêu, biết tận hưởng cuộc sống trần thế như Xuân Diệu mới viết nên được những dòng cảm nhận chính xác và tinh tế đến như vậy.

   Cũng với tâm hồn đắm say và lãng mạn, trong bài Vội làng nhà thơ đi viết:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi…

(Vội vàng-Xuân Diệu)

   Trước mắt Xuân Diệu, cuộc sống điển ra vô cùng sôi động, một nguồn nhựa sống bất tuyệt như đang tuôn trào dào dạt. Hai tiếng “này đây” lặp đi lặp lại nhiều lần như cho thấy những hương màu của mùa xuân mà nhà thơ đang trưng bày ra đây là nhiều, là dọn sẩn món ngon của bữa tiệc trần gian không sao kể cho xiết được. Này đây, này đây… là những hình ảnh đẹp đẽ và hấp dẫn của thiên nhiên cây cỏ, lá của cành tơ, khúc tình si của yến anh và cả hàng mi với đôi làn mắt chớp. Tất cả đều hiện ra trong một sắc màu sáng sủa và sinh động thể hiện “một nguồn sống dào dạt đắm say chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này”.

   Là người gắn bó với sự sống, vồ vập trước mọi vẻ đẹp của thiên nhiên, cây cỏ và con người lại khao khát tình yêu một cách cuồng nhiệt. Xuân Diệu muốn ôm cả hương sắc của trần thế vào lòng mình.

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muối riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm với tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

 Và non nước, và cây, và cỏ rạng…

   Đoạn thơ này với nhịp thợ dồn dập, sôi nổi, trào tuôn khiến người đọc không khỏi liên tưởng đến nhịp rộn ràng của trái tim thi nhân phút này. Xưa nay, đã mấy ai có được cái ham muốn nhiệt cuồng và mãnh liệt đến như vậy. Ở đây, Xuân Diệu muốn ôm vào vòng tay mình cả sự sống… mơn mởn, nhà thơ muốn riết mây đưa, muốn say cánh bướm, muốn thâu trong một cái hôn nhiều… Ngay trong nụ hôn thôi, đó là cái riêng tư giữa hai người với nhau mà thi nhân lại tưởng như trong đó đã thâu tóm cả nước non, cây cỏ. Đã vậy, lòng khát khao giao cảm, niềm say đắm với cảnh trời với tình yêu của thi nhân lại ngày một tảng lên mạnh mẽ và dữ dội.

Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi

Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!

(Vội vàng-Xuân Diệu)

   Cũng chỉ có Xuân Diệu mới có thể say đắm và thèm khát tình yêu đến nỗi đã khẳng định:

Làm sao sống được mà không yêu

Không nhớ không thương một kẻ nào

(Bài thơ tuổi nhỏ – Xuân Diệu)

   Trong thơ tình của thi nhân này còn biết bao vần điệu nồng nàn, mãnh liệt và đắm say đến độ nhiệt cuồng, dữ dội:

Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.

Anh nhớ em, anh nhớ lắm em ơi!

(Tương tư chiều-Xuân Diệu)

Nên lúc môi ta kể miệng thắm

Trời ơi! Ta muốn uống hồn em!

(Vô biên-Xuân Diệu)

   Tuy Xuân Diệu đã khẳng định “cái tôi” một cách mạnh mẽ bằng khát vọng tận hưởng hạnh phúc trần gian như thế, những do lúc bấy giờ thiếu một quan niệm biện chứng về thế giới, nhà thơ chỉ thấy thời gian là biến suy, là tàn tạ, là phôi pha và chỉ thấy ở cuối chặng đường đời là cái già, cái chết là sự hư vô:

Tóc ngời mai mốt không đen nữa

Tuổi trẻ khô đi mặt xấu rồi

Già nua đã bỏ sẵn hai tay

Hôm ấy trông ta gượng ánh ngày

Bệnh hoạn cắn xương như rắn rúc,

Ta ngồi góp lực nhớ hôm nay.

(Hư vô – Xuân Diệu)

Già sẽ đến, giơ tay xua ánh sáng

Đuổi bướm chim làm sợ cả hoa hương

Và dần dà càng rõ rệt bộ xương

Mà bạn hữu sẽ đặt nằm dưới đất.

(Thanh niên – Xuân Diệu)

   Chẳng khác chi một người có vật báu, lòng luôn nơm nớp lo sợ mất nó. Xuân Diệu cũng vậy. Say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, thi nhân rất sợ mất nó, vì biết rằng tuổi xuân sẽ qua đi, cuộc đời sẽ mất đi. Vì thế mà Xuân Diệu lúc nào cũng vội vàng, cuống quýt giục giã để tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình:

Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!

Em ơi em: tình non sắp già rồi

Con chim hồng trái tim nhỏ của tôi

Mau với chứ, thời gian không đứng đợi

… Gấp đi em anh rất sợ ngày mai

(Giục giã – Xuân Diệu)

   Ở bề sâu của cái “vội vàng”, của lời “giục giã“ ấy vẫn là một tâm hồn yêu đời sâu nặng, yêu cuộc sống một cách thiết tha của Xuân Diệu. Chính vì thế khi vui cũng như khi buồn người đều nồng nàn, tha thiết.

   Tâm hồn của nhà thơ luôn khát khao được giao cảm với đời, say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời. Với tất cả tâm hồn mình, người đã bao lần lắng nghe những tiếng nói “huyền diệu” của đất trời:

     Hãy lắng nghe em khúc nhạc thơm

Say người như rượu tối tân hôn

     Như hương thấm tận qua xương tủy

Âm điệu thần tiên thấm tận hồn

(Huyền diệu-Xuân Diệu)

   Phải nồng nàn, tha thiết lắm mới “còn cứ rung hoài như chiếc lá “khi khúc nhạc” ấy đã ngừng im”.

   Phải nồng nàn và tha thiết lắm nhà thơ mới nghe được ca tiếng lòng của đôi kẻ yêu nhau:

Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn

Lần đầu rung dộng nỗi thương yêu

(Thơ duyên -Xuân Diệu)

   Với tất cả tâm hồn nhạy cảm đầy nồng nàn và tha thiết của mình, Xuân Diệu cũng nghe được cả sự rung động trong lòng ta và trong ý bạn.

Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy

Lòng anh thôi đã cưới lòng em

(Thơ duyên-Xuân Diệu)

   Đó là trong niềm vui. Nhưng ngay trong nỗi buồn, Xuân Diệu cũng không hề lặng lẽ mà vẫn rất nồng nàn và tha thiết. Chính điều này đã khiến nhà thơ nhìn mọi vật trong đời giữa cái thế luôn vận động. Thật vậy, chỉ có đôi mắt xanh non của Xuân Diệu mới nhìn thấy sự “rung mình” của ánh trăng khi nghe tiếng đàn lạnh lẽo giữa đêm thu:

Linh lung ánh sáng bỗng rung mình

Vì nghe nương tử trong câu hát

Đã chết đêm rằm theo nước xanh!

(Nguyệt cầm-Xuân Diệu)

   Cũng chính đôi mắt ấy đã phát hiện ra hình hài của cái lạnh đang luồn trong gió đến, khi mùa thu mới chớm về:

Đã nghe rét mướt, luồn trong gió

(Đây mùa thu tới-Xuân Diệu)

Trong thơ mình và ngay cả trong đời mình, Xuân Diệu lúc nào cũng thể hiện một sự tha thiết nồng nàn hay nói khác, một chất sống mãnh liệt dào dạt. Không thể tìm thấy ở nhà thơ tài danh này sự nguội lạnh hay sự nhàn nhạt một cách đơn điệu trung bình, đều đều, phẳng lặng. Với nhà thơ thì:

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối

Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.

(Giục giã-Xuân Diệu)

   Phải hiểu là hai câu thơ này không thể hiện sự hưởng lạc hay sống gấp mà chính là thể hiện một tấm lòng ham sống, say mê sống đến độ tha thiết, nồng nàn, dạt dào và mãnh liệt của chính bản thân nhà thơ.

   Tóm lại, đúng như nhận định của Hoài Thanh: “Thơ Xuân Diệu còn lù một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui củng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết”. Suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật của mình, tình yêu đối với cuộc sống, với con người, với tuổi trẻ và tình yêu trong lòng của nhà thơ vẫn luôn luôn dạt dào và mãnh liệt. Chính vì vậy mà “ông Hoàng của thơ tình” đã khám phá được nhiều biến thái tinh vi của thiên nhiên cũng như nội tâm con người và thể hiện được trong những vần thơ ít lời, nhiều ý, súc tích như đong lại bao nhiêu là tinh hoa. (Thế Lữ).

Nhận định 2: Trong lời Tựa tập Thơ thơ của Xuân Diệu, nhà thơ Thế Lữ viết: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loàì người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”. Nhưng ở Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh lại viết về Xuân Diệu như sau: “Người đã tới giữa chúng ta với một ỵ phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy. Bằng sự hiểu biết về tác gia Xuân Diệu và thơ Xuân Diệu, anh (chị) hãy trình bày suy nghĩ của mình về những ý kiến trên.

Yêu cầu chung

– Câu này kiểm tra năng lực viết văn nghị luận văn học của thí sinh; đòi hỏi thí sinh phải huy động kiến thức về tác phẩm văn học, lí luận văn học, kĩ năng tạo lập văn bản và khả năng cảm nhận văn chương của mình để làm bàỉ.

– Thí sinh có thể cảm nhận và kiến giải theo những cách khác nhau, nhưng phải có lí lẽ, có căn cứ xác đáng, biết phân tích tác phẩm để củng cố cho lập luận của mình.

Yêu cầu cụ thể

a. Nêu được vấn đề cần nghị luận

b. Giải thích

– Ý kiến của Thế Lữ: Khẳng định tinh thần nhập thế, gắn bó với cuộc đời của Xuân Diệu. Vị trí đỉnh cao, huy hoàng của Xuân Diệu có gốc rễ sâu xa từ tấm lòng “quyến luyến cõi đời” của nhà thơ. Thơ Xuân Diệu là tiếng nói của niềm khát khao giao cảm với đời, với cuộc sống.

– Ý kiến của Hoài Thanh: Nhấn mạnh đến những cách tân mới mẻ, táo bạo của Xuân Diệu đến mức gây ngỡ ngàng, lạ lẫm với người tiếp nhận đương thời.

c. Bàn luận

* Thơ Xuân Diệu là tiếng nói của niềm khát khao giao cảm với đời, với cuộc sống:

– Xuân Diệu lấy thơ làm nhịp cầu để nối tâm hồn sôi nổi, đắm say của mình với những tâm hồn bè bạn, làm nên một thứ “Tình mai sau” không biên giới.

– Khẳng định, đề cao cái “tôi” cả nhân một cách chói lọi, huy hoàng. Thể hiện thái độ sống ham hố, vội vàng, cuống quít, nồng say.

– Với cách nhìn đời trẻ trung, mới mẻ, Xuân Diệu đã phát hiện, xây dựng nên một thiên đường ngay trên mặt đất với bao điều đáng yêu, đáng sống.

– Đối với Xuân Diệu, cuộc đời đẹp nhất, vui nhất là mùa xuân và tuồi trẻ. Trong tâm hồn ông bao giờ cũng là mùa xuân, tuổi xuân ‘Tình không tuổi và xuân không ngày tháng”.

– Là tâm hồn khát khao giao cảm với đời, tất nhiên Xuân Diệu phải là “ông hoàng của thơ tình”, vì tình yêu là niềm giao cảm mãnh liệt, trọn vẹn nhất của con người. Thơ tình Xuân Diệu đã diễn tả được mọi sắc thái, cung bậc của tình yêu, một tình yêu đích thực đòi hỏi sự hòa hợp giữa tâm hồn và thể xác.

(Thí sinh giỏi có thể đặt Xuân Diệu vào bối cảnh thơ mới để so sánh. Trong khi các nhà thơ mới thường có một “tháp ngà” để thoát li, trốn tránh cuộc đời thì Xuân Diệu “đã không trốn tránh mà lại còn quyến luyến cõi đời” (Thế Lữ, Tựa tập Thơ thơ).

* Những cách tân mới mẻ, táo bạo của Xuân Diệu:

– Khả năng sáng tạo hình ảnh táo bạo, mới mẻ, độc đáo.

– Cách đặt câu theo lối vắt dòng, ảnh hưởng từ thơ ca Pháp.

– Phát huy cao độ ý thức về quan hệ tương giao giữa các giác quan để cảm thụ thế giới. Từ đó, có khả năng diễn tả những biến thái tinh vi của thiên nhiên và tâm hồn con người.

(Thí sinh phân tích dẫn chứng để minh họa cho các ý trên).

Lưu ý: Trong thực tế, những cách tân của Xuân Diệu thể hiện ở hai phương diện: nội dung và hình thức. Tuy nhiên, theo cách diễn đạt của Hoài Thanh thì nghiêng về phương diện hình thức hơn (y phục tối tân, hình thức phương xa).

* Đánh giá

– Cả hai ý kiến đều là sự đánh giá chính xác, tinh tế về thơ Xuân Diệu. Ý kiến thứ nhất nhấn mạnh về phương diện nội dung tình cảm, cảm xúc trong thơ Xuân Diệu; ý kiến thứ hai nhấn mạnh về những cách tân mới mẻ, táo bạo của Xuân Diệu về phương diện hình thức. Cả hai ý kiến không mâu thuẫn nhau mà bổ sung cho nhau để hình thành cách nhìn nhận, đánh giá đúng về sự nghiệp sáng tác của nhà thơ.

– Cả hai ý kiến đều có tác dụng định hướng cho người đọc tìm hiểu, nghiên cứu về thơ Xuân Diệu.

Nhận định 3: Nhà phê bình văn học Hoài Thanh có nhận xét: “Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn kết thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần, vì ta thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng”. Trình bày ý kiến của anh (chị) về nhận xét trên

1.Ý nghĩa câu nói của Hoài Thanh

Xuân Diệu đến với thơ ca và có những đóng góp mới mẻ về thi pháp với những cách tân nghệ thuật giàu sáng tạo. Nhưng sự cách tân của XD vẫn có gốc rễ rất sâu trong thư ca truyền thống.

-Xuân Diệu là một trí thức Tây học, đã hấp thụ ảnh hưởng của tư tưởng và văn hoá Pháp.Đối với thơ ca Pháp, ông đặc biệt chịu ảnh hưởng của trường thơ tượng trưng.

-Thơ Xuân Diệu thể hiện quan hệ tương giao giữa các giác quan cùng tính nhạc của thơ. Ông là nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời. Niềm say mê mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu ở Xuân Diệu đã dẫn đến một cách tân đặc sắc về cảm hứng, thi tứ, bút pháp ; xây dựng hình ảnh, cú pháp, nhịp điệu …

+Trước Cách mạng tháng Tám, đóng góp của Xuân Diệu không phải là ở đề tài mà nét đặc sắc của Xuân Diệu là ở cảm hứng:

Cô đơn, trước nay là vì thiếu vắng con người, thiếu vắng một cái gì bầu bạn. Tản Đà cô đơn vì “Suông rượu, suông tình, bạn cũng suông”. Và Nguyễn Bính thì Côđơn buồn lại thêm buồn / Tạnh mưa bươm bướm có còn sang chơi”. Xuân Diệu thì lại khác, dù có người, có vật, có cảnh bên mình cũng vẫn là “hòn đảo cô đơn”:

Dù tin tưởng chung một đời một mộng

Em vẫn là em, anh vẫn cứ là anh

Có thể nào qua vạn lí trường thành

Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật

(Xa cách )

Tình yêu trong thơ Xuân Diệu không diễn tả bóng gió, ước lệ tượng trưng như trước kia mà nói một cách cụ thể, đầy đủ với ý nghĩa tình yêu bao gồm cả tâm hồn và thân xác: “Đây gối lả.Tay em đây, mời khách ngả đầu say”, “Mình em không đượcquấn chân anh / Sát đôi vai, kề đôi ngực / Trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài”

Nhận định về Xuân Diệu ngắn gọn, hay nhất (ảnh 2)

Thiên nhiên trong thơ xưa thường được tiếp nhận bằng thị giác, ít nhiều bằng thính giác nhưng Xuân Diệu thưởng thức thiên nhiên không chỉ vậy mà còn cả bằng xúc giác:

Tôi để da tay ý dịu tràn

Gửi vào cây cỏ chút mơn man

Chân trần sung sướng nghe da đất

Tôi nhận xa xôi của dặm ngàn

(Đi dạo )

Và cả bằng vị giác: “Hương hiu hiu nên gió cũng ngọt ngào”

Xuân Diệu thường nhân hoá thiên nhiên một cách táo bạo. Nhà thơ gắn cho thiên nhiên những tâm tư, hành động, tâm trạng “rất người” một cách tự nhiên, hợp lí:

“Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm”

“Đêm bâng khuâng đôi miếng lẩn trong cành”

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”

+ Xuân Diệu ảnh hưởng của thơ Pháp thế kỉ XIX về cách diễn đạt, nhịp điệu, cú pháp … nên cách diễn đạt của Xuân Diệu quá mới đối với người đọc Việt Nam lúc bấy giờ:

Hôm nay tôi đã chết trong người

Xưa hẹn nghìn năm yêu mến tôi

( Ý thơ )

Hơn một loài hoa đã rụng cành

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh

( Đây mùa thu tới )

+ Xuân Diệu cũng lục tìm, sáng chế những từ mới:

“Cơn gió xinh thì thào trong lá biếc”

“Cành biếc run run chân ý nhi”

“Em vui đi răng nở ánh trăng rằm”

-Nhưng sự cách tân của Xuân Diệu vẫn có nguồn gốc của thơ ca truyền thống mà Hoài Thanh gọi đó là “tình đồng hương vẫn nặng”. Bởi lẽ Xuân Diệu là con của một ông tú kép nên có điều kiện tiếp xúc và sớm hiểu biết văn chương cổ điển. Bản thân Xuân Diệu hấp thụ một cách tự nhiên ảnh hưởng của nền văn hoá truyền thống trong quá trình học tập, sinh sống ( ông từng học ở Qui Nhơn, Huế, Hà Nội và có thời gian công tác ở Mĩ Tho ). Ông tìm đến thơ ca hiện đại Pháp vì nó có khả năng diễn tả chân thực những khát khao mãnh liệt của lòng mình nhưng Xuân Diệu vẫn gắn bó với thơ ca dân tộc:

+ Có lúc những từ ngữ Xuân Diệu chọn lựa thật giản dị, mộc mạc:

Anh bước điềm nhiên không vướng chân

Anh đi lững thững chẳng theo gần

Vô tâm nhưng giữa bài thơ lạ

Anh với em như một cặp vần

( Thơ duyên )

+Những biệp pháp tu từ thường thấy trong thơ ca truyền thống:

Cách dùng điệp ngữ, điệp từ:

“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

Xuân còn non nghĩa là xuân sắp già”

“Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tơ phơ phất

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”

( Vội vàng )

Có lúc phát huy tối đa từ láy trong vốn từ tiếng Việt: “ Những luồng run rẩy rung rinh lá”

2. Nhận xét

-Nhận định của Hoài Thanh là xác đáng, nhà phê bình đã thấy được ở nhà thơ Xuân Diệu –Một nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới- bên cạnh những nét mới lạ, có vẻ rất phương Tây là một “ tình đồng hương vẫn nặng” nghĩa là vẫn rất Việt Nam. Đây chính là nét độc đáo của Xuân Diệu nói riêng và của phong trào Thơ mới nói chung.

Nhận định 4: Trong cuốn “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh có nhận xét về Xuân Diệu; đó là một hồn thơ “thiết tha, rạo rực, băn khoăn”. Anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên qua bài thơ “Vội vàng”.

1. Nêu vấn đề.

2. Giới thiệu tác giả – tác phẩm.

3. Giải thích:

– Hoài Thanh nhận định về hồn thơ Xuân Diệu chỉ bằng ba từ: “thiết tha, rạo rực, băn khoăn” nhưng đã khái quát được diện mạo thơ Xuân Diệu trên thi đàn Thơ mới. Đó là một hồn thơ yêu đời yêu sống đắm say nhưng cũng hay bi quan, chán nản, băn khoăn giữa lẽ đời vô thường.

4. “Vội vàng” tiêu biểu cho hồn thơ “thiết tha, rạo rực, băn khoăn” ở Xuân Diệu:

a. “Vội vàng” thể hiện cái “thiết tha, rạo rực” của một tấm lòng yêu đời, khát sống đắm say trước khu vườn trần thế đầy hương sắc, âm thanh, ánh sáng…

– Tình yêu cuộc sống thiết tha, sôi nổi, đắm say khiến nhà thơ phát hiện cả một thiên đường thật tuyệt vời, hấp dẫn ngay trên mặt đất. Thanh sắc của trần gian tràn vào thơ như còn tươi nguyên và ấm nóng hơi thở nồng nàn của cuộc sống.

– Hồn thơ Xuân Diệu đồng hành với những gì đẹp nhất, trẻ trung nhất. Qua cặp mắt “xanh non và biếc rờn” của thi nhân, qua “lăng kính ái ân” của một hồn thơ, bức tranh thiên nhiên có một sức quyến rũ kì lạ. Tất cả tràn đầy xuân sắc, rạo rực xuân tình.

b. Vội vàng còn có nỗi băn khoăn, buồn lo, chán nản trước ám ảnh thời gian. Đó cũng là biểu hiện của một tấm lòng yêu đời, yêu sống thiết tha, cuồng nhiệt.

– Ý thức về sự hữu hạn của đời người trước dòng chảy thời gian nên ngậm ngùi tiếc nuối.

– Nhạy cảm trước bước đi vô hình của thời gian nên cảm thấy mất mát, niềm chia phôi, li biệt ngập tràn trong tâm hồn thi sĩ.

c. “Vội vàng” có cái thiết tha, rạo rực của một con tim khát sống, yêu đời đến ngất ngây, bồng bột, đầy khát khao và ham hố.

– Yêu đời, yêu sống thiết tha, mãnh liệt nên cuống quýt, vội vàng, giục giã như tranh cướp với thời gian. Đó cũng là sự thể hiện quan niệm sống tích cực và một triết lí nhân sinh sâu sắc.

– “Thức nhọn các giác quan” để đón nhận tất cả thanh âm, hương sắc của cuộc đời trong niềm khát khao hưởng thụ đến thỏa thuê, tận độ.

d. “Vội vàng” thể hiện cái “thiết tha, rạo rực, băn khoăn” của một hồn thơ qua”

– Nhịp điệu sôi nổi, đầy biến hóa, giọng thơ hăm hở, cuống quýt…

– Một thế giới hình ảnh thơ tươi mới, tràn đầy sức sống, đầy rẫy cảm giác vừa gần gũi như tồn tại đâu đó quanh ta lại vừa mới mẻ, độc đáo trong cách nhìn riêng của Xuân Diệu.

(Con người là chuẩn mực của cái đẹp, “lăng kính ái ân”… )

– Cách dùng từ, đặt câu rất độc đáo,… diễn tả thật ấn tượng nỗi “thiết tha, rạo rực” dâng trào đến đỉnh điểm.

=> Chính tình yêu cuộc sống mãnh liệt đã đẩy cảm xúc thi nhân lên đỉnh cao sáng tạo. “Vội vàng” là sự thăng hoa cảm xúc của một trái tim yêu đời, yêu sống.

5. Đánh giá chung:

– Hoài Thanh đã có một nhận định thật xác đáng về hồn thơ Xuân Diệu: “thiết tha, rạo rực, băn khoăn” – đó là nét nổi bật làm nên phong cách độc đáo của Xuân Diệu.

– Ở góc độ tiếp nhận văn chương, cảm nhận của Hoài Thanh về Xuân Diệu là sự gặp gỡ tuyệt vời giữa một hồn thơ và tâm hồn nghệ sĩ của một độc giả luôn “lấy hồn tôi để hiểu hồn người”.

– Nhận định của Hoài Thanh hướng người đọc cảm nhận sâu sắc thế giới nghệ thuật thơ Xuân Diệu và hiểu rằng chính nét độc đáo của một hồn thơ và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ đã góp phần làm phong phú “một thời đại thi ca”.

Một số nhận định về Xuân Diệu:

“Xuân Diệu là một nhà thơ lớn, đặc sắc, độc đáo của nền thơ hiện đại Việt Nam… cho tới nay và những năm tháng trước mắt liệu có ai vượt được Xuân Diệu trong lĩnh vực thơ tình?

Và không ai có thể thay thế được Xuân Diệu”.

(Tố Hữu)

Nhà thơ nữ lừng danh, bà Bra-gri-a-ma ở chân núi Vi-to-sa (Bungari) khi tuyển thơ tình trên thế giới, bà đã khoe với các bạn Việt Nam: “Tôi mở đầu tuyển tập hàng trăm tác giả này bằng nhà thơ Nga Puskin và kết thúc bằng nhà thơ Xuân Diệu – Việt Nam, Xuân Diệu là nhà thơ tình lớn của phương Đông vậy!”

“Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”.

(Thế Lữ – Lời tựa cho tập “Thơ thơ”)

Nguyễn Đăng Mạnh: “Xuân Diệu không quan niệm tình yêu chỉ là sự giao cảm xác thịt mà còn là sự giao cảm của những linh hồn mà đấy mới là cái khát vọng cao nhất, cái đích cao nhất trong tình yêu”.

“Nhà thơ Xuân Diệu mất đi, thấy có mang theo một mảng đời văn tôi”.

(Nguyễn Tuân)

—/—

Trên đây là các bài văn Nhận định về Xuân Diệu do THPT Ninh Châu sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button