Lớp 11Ngữ Văn

Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ ngắn gọn nhất – Soạn văn 11

Để đáp ứng được mong muốn của các bạn học sinh có 1 bản Soạn văn 11 ngắn nhất, dễ hiểu nhưng vẫn phải đầy đủ các ý chính, các thầy cô giáo tại TOPLOIGIAI đã biên soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ ngắn nhất theo phương pháp đó. Hi vọng bản soạn văn này sẽ giúp các bạn hiểu bài nhanh chóng hơn.

Khái quát tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ

Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ

Câu 1

Mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”. Nếu chỉ đọc lướt qua, ta sẽ cảm nhận đây như một câu trách móc của cô gái, nhưng thật ra, nó là một lời mời, mời chàng trai về chơi thôn Vĩ.

Cảnh vật thôn Vĩ gợi mở với hình ảnh hàng cau, một hình ảnh quen thuộc với làng quê Việt Nam. “Nắng mới lên” là ánh nắng buổi sớm bình minh trong trẻo tinh khôi. Điệp từ “nắng” nhấn mạnh ánh nắng chan hòa, ấm áp, chiếu rọi trên hàng cau.

Bạn đang xem: Soạn bài Đây thôn Vĩ Dạ ngắn gọn nhất – Soạn văn 11

Tác giả đi đến miêu tả vườn cây: “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Đại từ thiếm chỉ “ai” gợi tả sự mơ hồ, bất định, một chất rất riêng của thơ Hàn Mạc Tử. Tác giả dùng từ “mướt quá” chứ không phải tươi quá hay xanh quá đã gợi lên một khu vườn tươi tốt, xanh non, mơn mởm. Bằng nghệ thuật so sánh “xanh như ngọc” kết hợp từ ngữ được sử dụng trước đó gợi lên một khu vườn xanh tốt, màu xanh trong veo, tinh khiết, tràn đầy sức sống, mang đến cho con người ta cảm giác tươi mới dễ chịu.

Con người nơi thôn Vĩ Dạ hiện lên chớp nhoáng nhưng vẫn để lại ấn tượng sâu sắc. Khuôn mặt chữ điền là khuôn mặt hiền lành, phúc hậu. Khôn mặt ấy không xuất hiện trực tiếp là khẽ ẩn sau làn lá trúc, nó thể hiện sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Người dân thôn Vĩ họ là những con người hiền lành, thân thiện, sống chan hòa với thiên nhiên.

Khổ thơ đầu vẽ lên bức tranh thiên nhiên tươi đẹp, tràn đầy sức sống, với những con người chân phương hiền lành. Bức tranh ấy còn thể hiện tình yêu tha thiết, mong muốn một lần về thăm lại thôn Vĩ.

Câu 2 

Khổ thơ thứ hai Hàn Mạc Tử sử dụng chủ yếu các hình ảnh thiên nhiên như gió, mây, sông, nước, trăng, hoa.

Gió và mây được miêu tả song song trong một câu văn với hai vế, cách ngắt nhịp thơ 4/3, gợi ra khung cảnh chia lìa, gió và mây xa cách, tạo nên sự ám ảnh về sự chia xa và chia cắt.

Dòng nước được tác giả miêu tả là “buồn thiu”.Nghệ thuật nhân hóa được sử dụng rất tinh tế ở đây, khiến cho dòng nước cũng như con người, có cảm xúc riêng, cũng biết buồn. Nỗi buồn của dòng nước ấy phải chăng và nỗi buồn của nhà thơ, vì không thể nói ra nên mới gửi gắm vào?

Tả đến hoa bắp, Hàn Mạc Tử không dùng từ nhiều từ ngữ, mà chỉ dùng 1 từ “lay”, nhưng từ “lay” ấy cũng gợi ra nỗi buồn tủi hắt hiu qua cái chuyển động nhẹ nhàng, yếu ớt.

Tất cả cảnh vật đều được miêu tả với một nỗi buồn trống vắng trong sự chia lìa, phân cách.

Hình ảnh “sông trăng” hiện lên đầy thi vị, lãng mạng. Nó gợi ra bức tranh với ánh sáng vàng dịu nhẹ của ánh trăng lan tỉa khắp mặt sông. Trên con sông ấy, đơn độc chỉ có một chiếc thuyền. Động từ phiếm chỉ “ai” được sử dụng rất tài tình, gợi lên sự mơ hồ, vô định. Trong khung cảnh đó, chiếc thuyền như chở đầy trăng. Vào lúc này, nhà thơ vang lên câu hỏi “Có chở trăng về kịp tối nay?” thể hiện sự bâng khuâng, lo lắng, hoảng hốt của mình. Chữ “kịp” tạo cho câu văn sự gấp rút, lo lắng. Thời gian chỉ còn lại rất ngắn ngủi, và chiếc thuyền đang chạy đua với thời gian. Câu thơ khắc họa lên hình ảnh sông Hương đầy mơ mộng, huyền ảo. Nhưng trong cái thơ mộng ấy, lại có cái buồn tủi, lo lắng, có cái vô định không bến bờ. Sự vô định, buồn tủi ấy cũng chính là sự vô định, buồn tủi của nhà thơ. Nó mang đến cho người đọc niềm cảm thương sâu sắc.

Câu 3 

Khổ thơ cuối càng khắc họa sâu nỗi buồn thăm thẳm cũng sự mơ hồ bất định.

– Chữ “mơ” xuất hiện ngay đầu câu thơ càng khẳng định thêm sự mơ hồ. Dường như nhà thơ đã không thể phân biệt được hiện thực và mơ ảo. “khách đường xa” chính là người mà Hàn Mặc Tử hằng mong nhớ. Nhưng vì là “khách đường xa” nên càng không thể chạm tới, chỉ có thể ngắm nhìn vẻ đẹp trong sáng ấy trong mơ.

– Và hình ảnh “khách đường xa” trong câu thơ thứ hai đã phát triển thành “áo em trắng quá” trong câu thứ ba. Nó nhấn mạnh thêm về vẻ đẹp trong trắng, cũng làm cho không khí bài thơ càng trở nên mơ hồ. “Nhìn không ra ” càng khẳng định sự mơ hồ mà nhà thơ đang đắm chìm vào.

– Không gian “sương khói mờ nhân ảnh” càng làm vạn vật thêm mơ hồ. Và cái không gian ấy, nó cũng làm lòng người trở lên mơ hồ. câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có mặn mà” cũng là một câu khẳng định. Từ “ai” làm câu thơ có thể hiểu theo hai cách. Một là không biết em có dành tình cảm đậm đã cho anh không, hoặc là không biết em có biết tình cảm anh dành cho em có đậm đà không. Nhưng dù hiểu theo cách nào, hai câu thơ cũng tạo sự mơ hồ, đồng thời nó càng khắc sâu thêm nỗi đau vè cuộc sống thiếu vắng tình yêu. Nhà thơ luôn mong mỏi, trông ngóng tình yêu, nhưng tiếc rằng tình yêu mãi chẳng đến.

Câu 4

Tứ thơ của Đây thôn Vĩ dạ là sự đan xen giữa hiện thực và ảo ảnh. Thực chính là những cảnh đẹp của thôn Vĩ, nét đẹp của con người xứ Huế, ảo chính là những cảnh đẹp ấy hiện lên trong nỗi nhớ da diết của nhà thơ, đi kèm với mong muốn một lần trở lại thăm nơi này.

Bài thơ là sự kết hợp hài hào giữa bút pháp tả thực và bút pháp ước lệ tượng trưng, bút pháp lãng mạng. Đây thôn Vĩ Dạ tiêu biểu cho phong cách viết mang đậm lãng mạng, trữ tình của Hàn Mặc Tử.

LUYỆN TẬP

Câu 1

Những câu hỏi trong bài thơ đều là những câu hỏi tu từ nên không hướng đến một người cụ thể, nó chỉ có tác dụng bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của tác giả.

Câu hỏi đầu tiên “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” như một lời mời chào, cũng là lời trách móc, đồng thời nó cũng thể hiện nối tiếc nuối của tác giả khi không thể về thăm.

Câu hỏi thứ hai “Có chở trăng về kịp tối nay?” mang nỗi niềm hi vọng và tình yêu thầm kín dành cho thôn Vĩ.

Câu hỏi cuối cùng “Ai biết tình ai có đậm đà?” đầy chua sót, nó thể hiện nối cô đơn, trống trải của con người đang chiến đấu với bệnh tật, nhưng tâm hồn vẫn tha thiết yêu thương.

Câu 2 

Bài thơ sáng tác trong giai đoạn Hàn Mặc Tử đang chiến đấu với căn bệnh phong. Đặt vào hoàn cảnh đó, kết hợp với một số tài liệu cho rằng, bài thơ lấy cảm hứng từ mối tình không thành của nhà thơ và Hoàng Thị Kim Cúc, ta chợt nhận ra bài thơ chính là tiếng lòng tha thiết của một con người có tình nhưng không thành, lại phải cô đơn, quằn quại chống trọi bệnh tật một mình.

Hoàn cảnh đó làm bài thơ không chỉ thêm lãng mạng, u buồn mà nó càng khắc họa sâu nỗi niềm khát vọng của nhà thơ, đồng thời thể hiện sâu sắc nghị lực vượt khó và tài năng bất chấp tất cả của nhà thơ, điều đó khiến ta càng thêm cảm động.

Câu 3 

Bài thơ thể hiện cả tình yêu quê hương và tình yêu đôi lứa. Tình yêu quê hương thể hiện qua những câu thơ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, con người Huế, nỗi nhớ, niềm thương mong được trở về thăm thôn Vĩ. Qua sự mong muốn về thăm đó, nó bộc lộ một tình yêu tha thiết, nồng nàn nhưng cũng trong sáng của nhà thơ. Đồng thời, tình yêu đôi lứa cũng thể hiện qua những câu hỏi tu từ bộc lộ tình cảm, đặc biệt câu thơ cuối “Ai biết tình ai có đậm đà?” thể hiện sự lo lắng, bâng khuâng về tình cảm con người.

Các bài viết liên quan khác:

  • Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ | Top 3 bài hay nhất
  • Phân tích bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ (bản 2)
  • Phân tích chi tiết bài thơ: Đây Thôn Vĩ Dạ

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button