Lớp 11Ngữ Văn

Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài siêu ngắn hay nhất

Mời các bạn đón đọc bản Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài siêu ngắn gọn, đây là phiên bản soạn văn 11 siêu ngắn được các thầy cô biên soạn nhằm giúp các bạn học sinh tiếp cận bài học một cách dễ dàng nhất.

Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – Bản 1

Tóm tắt

    Hồi V cũng là hồi cuối cùng của vở kịch. Ở hồi này, mâu thuẫn giữa dân chúng, những người bị bắt làm phu phen khổ sai và tầng lớp phong kiến, vua chúa ngày càng gay gắt. Lợi dụng điều đó, Quận công Trịnh Duy Sản – kẻ cầm đầu phe đối lập trong triều đình – đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết chết cả Lê Tương Dực, Vũ Như Tô và Đan Thiềm. Còn Đài Cửu Trùng thì bị đập phá, thiêu hủy.

Bố cục

Bố cục: 2 phần

Bạn đang xem: Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài siêu ngắn hay nhất

– Phần 1 (từ lớp I đến lớp VI): Cuộc trò chuyện giữa Vũ Như Tô với Đan Thiềm, cung nữ và nội giám, Vũ Như Tô bàng hoàng nhận ra bi kịch đang cận kề.

– Phần 2 (từ lớp VII đến lớp IX): Quân phản loạn đốt Cửu Trùng Đài và kết án Vũ Như Tô.

Nội dung chính

– Những xung đột, tính cách, diễn biến tâm trạng và bi kịch của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích.

– Qua tấn bi kịch của Vũ Như Tô, tác giả đã đặt ra vấn đề sâu sắc, có ý nghĩa muôn thủa về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống, giữa lí tưởng nghệ thuật thuần túy cao siêu muôn đời với lợi ích thiết thân và trực tiếp của nhân dân.

Câu 1 (trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Đoạn trích thể hiện 2 mâu thuẫn cơ bản của vở kịch Vũ Như Tô:

– Một là mâu thuẫn giữa nhân dân lao động lầm than với bọn hôn quân bạo chúa cùng phe cánh ăn chơi hưởng lạc.

– Hai là mâu thuẫn giữa lí tưởng nghệ thuật thuần túy, cao siêu muôn đời với lợi ích thiết thực của nhân dân. 

Câu 2 (trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm:

* Tính cách, diễn biến tâm trạng Vũ Như Tô:

– Vũ  Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, là người nghệ sĩ có nhân cách lớn, có hoài bão và lí tưởng nghệ thuật cao cả:

+ Từ chối xây Đài Cửu Trùng cho Lê Tương Dực mặc cho hôn quân dụ dỗ hay dọa giết.

+ Chấp nhận xây Cửu Trùng Đài vì muốn lợi dụng nguồn lực của hôn quân để xây cho đất nước một công trình vĩ đại.

– Tâm trạng bi kịch đầy căng thẳng của Vũ  Như Tô khi nuôi hoài bão lớn về một công trình vĩ đại nhưng lại lầm lạc trong suy nghĩ và hành động:

+ Cuộc nổi loạn nổ ra, Đan Thiềm báo và giục Vũ  Như Tô đi trốn nhưng ông không chịu đi.

+ Hiện thực phũ phàng đập tan ảo tưởng, Vũ  Như Tô bừng tỉnh và rơi vào đau khổ tuyệt vọng.

* Tính cách, diễn biến tâm trạng Đan Thiềm:

– Là người say mê cái tài, Đan Thiềm là tri âm tri kỉ của Vũ  Như Tô.

– Khi bạo loạn xảy ra, Đan Thiềm tỉnh táo và sáng suốt khuyên Vũ  Như Tô bỏ trốn để giữ lấy tính mạng.

=> Hai nhân vật bi kịch.

Câu 3 (trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

   Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu và lợi ích thiết thực của nhân dân chưa được tác giả giải quyết dứt khoát:

– Vũ Như Tô đến chết vẫn không nhận ra sai lầm, tự cho mình là vô tội.

– Đó là mâu thuẫn không thể giải quyết, trừ khi Vũ Như Tô sinh ra trong một thời đại khác, trong một xã hội khác tạo điều kiện cho người nghệ sĩ cống hiến tài năng.

Câu 4 (trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Nghệ thuật đặc sắc trong đoạn trích:

– Xung đột kịch đặc sắc.

– Các lớp kịch chuyển mạch tự nhiên.

– Nhân vật kịch bộc lộ rõ tính cách, tâm trạng qua ngôn ngữ và hành động.

– Ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao.

Luyện tập

Câu hỏi (trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1)

– Lời đề tựa chính là sự băn khoăn, trăn trở trong tư tưởng của tác giả: Lẽ phải thuộc về Vũ Như Tô hay những kẻ giết Vũ Như Tô? Và ông thú nhận “Ta chẳng biết”

– Tác giả vẫn chưa thể giải quyết triệt để mâu thuẫn giữa nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh. Việc mất Cửu Trùng Đài vừa nên mừng, vừa nên tiếc. Vũ Như Tô chết, uổng phí một tài năng.

–  Lời đề tựa đã nêu lên một tư tưởng quan trọng về mối quan hệ giữa văn chương và đời sống: văn chương ngoài bản thân nghệ thuật còn phải gắn bó với đời sống.

Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – Bản 2

Tóm tắt

Văn bản là hồi V (Một cung cấm) của vở bi kịch lịch sử “Vũ Như Tô” của tác giả Nguyễn Huy Tưởng. Hồi V cũng là hồi cuối cùng của vở kịch. Ở hồi này, mâu thuẫn giữa dân chúng, những người bị bắt làm phu phen khổ sai và tầng lớp phong kiến, vua chúa ngày càng gay gắt. Lợi dụng điều đó, Quận công Trịnh Duy Sản – kẻ cầm đầu phe đối lập trong triều đình – đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm phản, giết chết cả Lê Tương Dực, Vũ Như Tô và Đan Thiềm. Còn Đài Cửu Trùng thì bị đập phá, thiêu hủy.

Bố cục

Phần 1 (từ lớp I đến lớp VI): Cuộc trò chuyện giữa Vũ Như Tô với Đan Thiềm, cung nữ và nội giám, Vũ Như Tô bàng hoàng nhận ra bi kịch đang cận kề.

Phần 2 (từ lớp VII đến lớp IX): Quân phản loạn đốt Cửu Trùng Đài và kết án Vũ Như Tô.

Câu 1 (trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Hồi V thể hiện hai mẫu thuẫn cơ bản:

– Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động với tầng lớp phong kiến.

– Mâu thuẫn giữa Vũ Như Tô và những người phu phen bị bắt bớ, phu dịch để xây Cửu Trùng Đài ⇒ Mâu thuẫn giữa nghệ thuật thuần túy, cao siêu và đời sống hiện thực của con người.

Câu 2 (trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Vũ Như Tô:

   + Diễn biến tâm trạng: từ ngạc nhiên, bán tín bán nghi đến bàng hoàng và cuối cùng là suy sụp, đau khổ.

   + Tính cách: là người nghệ sĩ tài ba, hết lòng vì nghệ thuật, là người nghệ sĩ có nhân cách lớn, hoài bão lớn nhưng lại có phần mù quáng, sai lầm.

Đan Thiềm:

   + Diễn biến tâm trạng: Lo lắng cho Vũ Như Tô, đến hoảng sợ và cuối cùng là thất vọng, buông xuôi.

   + Tính cách là: là người biết quý trọng cái tài, cái đẹp, người thức thời, trọng tình nghĩa, phẩm chất thanh cao.

Câu 3 (trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

   + Ở hồi cuối, mâu thuẫn giữa nghệ thuật cao siêu, vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh vẫn chưa được giải quyết dứt khoát. Vũ Như Tô đến tận lúc chết vẫn không nhận ra được bi kịch, mâu thuẫn mà mình mắc phải, vẫn đinh ninh mình vô tội, thà chết chứ không nhận sai.

   + Cách xử lý tình huống của tác giả đã phần nào giải quyết được mâu thuẫn ấy: hai điều đối nghịch đó không thể cùng lúc tồn tại, nên Đài Cửu Trùng bị phá, Vũ Như Tô thì bị giết.

Câu 4 (trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

Đặc sắc nghệ thuật:

   + Ngôn ngữ kịch điêu luyện, giàu màu sắc cổ điển, thể hiện cảm xúc cao độ.

   + Khắc họa nhân vật (số phận, tính cách, tâm tư, suy nghĩ) thông qua ngôn ngữ, hành động.

   + Xây dựng xung đột kịch có cao trào, thắt nút.

Luyện tập

Câu hỏi (trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

   + Lời đề tựa chính là sự băn khoăn, trăn trở trong tư tưởng của tác giả.

   + Tác giả vẫn chưa thể giải quyết triệt để mâu thuẫn giữa nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh.

   + Lời đề tựa đã nêu lên một tư tưởng quan trọng về mối quan hệ giữa văn chương và đời sống: văn chương ngoài bản thân nghệ thuật còn phải gắn bó với đời sống.

Ý nghĩa

Qua tấn bi kịch của Vũ Như Tô, tác giả đã đặt ra những vấn đề sâu sắc, có ý nghĩa muôn thuở về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống, giữa lí tưởng nghệ thuật cao siêu, thuần túy với lợi ích thiết thân và trực tiếp của nhân dân,…

Đoạn trích cũng đã thể hiện những đặc sắc về nghệ thuật kịch của Nguyễn Huy Tưởng.

Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – Bản 3

Bố cục

Phần 1 (từ lớp I đến lớp VI): Cuộc trò chuyện giữa Vũ Như Tô với Đan Thiềm, cung nữ và nội giám, Vũ Như Tô bàng hoàng nhận ra bi kịch đang cận kề.

Phần 2 (từ lớp VII đến lớp IX): Quân phản loạn đốt Cửu Trùng Đài và kết án Vũ Như Tô

Nội dung bài học

   Đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài ” đặt ra vấn đề có ý nghĩa muôn thưở về cái đẹp, và mối quan hệ giữa nghệ sĩ và nhân dân, đồng thời tác giả bày tỏ niềm cảm thông, trân trọng đối với nghệ sĩ tài năng, giàu khát vọng nhưng lại rơi vào bi kịch.

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 193 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

Mâu thuẫn cơ bản của vở kịch trong hồi V

a. Mâu thuẫn thứ nhất:

– Mâu thuẫn: nhân dân lao động khốn khổ lầm than >< bọn hôn quân bạo chúa và phe cánh của chúng sống xa hoa truỵ lạc.

b. Mâu thuẫn thứ hai

– Mâu thuẫn giữa mục đích chân chính >< con đường thực hiện mục đích sai lầm của Vũ Như Tô=> Mâu thuẫn giữa quan niện nghệ thuật cao siêu, thuần túy muôn đời và lợi ích thiết thực của nhân dân

=> Đẩy Vũ Như Tô vào bi kịch không lối thoát

Câu 2 (trang 193 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Vũ Như Tô:

+ Diễn biến tâm trạng: từ bất ngờ, duwat khoát không tin đến nghi ngờ và đau khổ, suy sụp

+ Tính cách: một nghệ sĩ có nhân cách lớn, hoài bão lớn, có lí tưởng nghệ thuật cao cả nhưng lại sai lầm, mù quáng trong suy nghĩ, hành động

– Đan Thiềm:

+ Diễn biến tâm trạng: lo lắng cho an nguy của Vũ Như Tô, sẵn sáng đổi mạng sống cho VNT

+ Tính cách là: là người tỉnh táo, mê cái đẹp, cái tài

Câu 3 (trang 193 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

– Mâu thuẫn chưa được giải quyết dứt khoát thể hiện ở việc: VNT đến cuối cùng vẫn chưa thực sự nhận thức được mâu thuẫn, sai lầm mình mắc phải, luôn nghĩ mình không có tội

– Nên giải quyết mâu thuẫn : Cách tác giả giải quyết mâu thuẫn này tuy chưa triệt để nhưng đã hợp lí nhất trong hoàn cảnh đó, VNT chết, Cửu Trùng Đài bị phá

Câu 4 (trang 193 sgk Ngữ văn 11 Tập 1):

Đặc sắc nghệ thuật:

– Ngôn ngữ tập trung phát triển cao, hành động dồn dập đầy kịch tính.

– Ngôn ngữ cao đẹp có sự tổng kết cao, nhịp điệu lời thoại nhanh.

– Tính cách tâm trạng nhân vật bộc lộ rõ nét qua ngôn ngữ hành động.

– Các lớp kịch được chuyển tự nhiên, linh hoạt liền mạch.

Luyện tập 

Câu hỏi (trang 193 SGK Ngữ văn 11 tập 1):

– HS trình bày suy nghĩ về đề tựa:

+ Tác giả vẫn băn khoăn trước mâu thuẫn giữa cái đẹp và thực tế đời sống, yêu cái đẹp, muốn cái đẹp tồn tại nhưng chưa có cách nào triệt để giải quyết mâu thuẫn, để cái đẹp không rời xa đời sống

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button