Tải Kế hoạch 108/KH-UBND năm 2020 về thực hiện Chương trình điều chỉnh mức sinh đến năm 2030 tỉnh Ninh Bình – Tải File Word, PDF [DownLoad]



Kế hoạch 108/KH-UBND năm 2020 về thực hiện Chương trình điều chỉnh mức sinh đến năm 2030 tỉnh Ninh Bình

Số hiệu: 108/KH-UBND Loại văn bản: Văn bản khác
Nơi ban hành: Tỉnh Ninh Bình Người ký: Tống Quang Thìn
Ngày ban hành: 31/10/2020
Ngày hiệu lực:
Đã biết
Ngày công báo: Đang cập nhật Số công báo: Đang cập nhật
Tình trạng: Đã biết

Tóm tắt văn bản

Nội dung văn bản

Bạn đang xem: Tải Kế hoạch 108/KH-UBND năm 2020 về thực hiện Chương trình điều chỉnh mức sinh đến năm 2030 tỉnh Ninh Bình – Tải File Word, PDF [DownLoad]

Kế hoạch 108/KH-UBND năm 2020 về thực hiện Chương trình điều chỉnh mức sinh đến năm 2030 tỉnh Ninh Bình

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 108/KH-UBND

Ninh Bình, ngày
31 tháng 10 năm 2020

 

KẾ HOẠCH

THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH ĐIỀU CHỈNH MỨC SINH ĐẾN
NĂM 2030 CỦA TỈNH NINH BÌNH

Thực hiện Quyết định
số 588/QĐ-TTg ngày 28 tháng 4 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt
“Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030”, Ủy
ban nhân dân tỉnh xây dựng Kế hoạch thực hiện Chương trình điều chỉnh mức sinh
đến năm 2030 của tỉnh Ninh Bình, như sau:

I. CĂN CỨ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN

– Nghị quyết số
21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, về công
tác dân số trong tình hình mới;

– Nghị quyết số
137/NQ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện
Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới;

– Quyết định số
1679/QĐ-TTg ngày 22/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược
Dân số Việt Nam đến năm 2030;

– Quyết định số
588/QĐ-TTg , ngày 28/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định phê duyệt
“Chương trình điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030”;

– Quyết định số
2324/QĐ-BYT ngày 05/6/2020 của Bộ Y tế về việc Ban hành Kế hoạch hành động thực
hiện Chương trình Điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030;

– Chương trình
hành động số 22-CTr/TU ngày 26/02/2018 của Tỉnh uỷ Ninh Bình thực hiện Nghị quyết
số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về công
tác dân số trong tình hình mới;

– Kế hoạch số
37/KH-UBND ngày 09/4/2018 của UBND tỉnh về thực hiện Chương trình hành động số
22-CTr/TU ngày 26/02/2018 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày
25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về
công tác dân số trong tình hình mới.

II. THỰC TRẠNG MỨC SINH TẠI TỈNH NINH BÌNH

1. Thực trạng mức sinh

Mức sinh thay thế
có vai trò quan trọng trong việc ổn định quy mô dân số, cơ cấu dân số, nâng cao
chất lượng số và nguồn nhân lực cho phát triển đất nước. Nếu mức sinh giảm xuống
thấp đến dưới mức 1,35 con/phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, điều này sẽ dẫn đến
dân số suy giảm, thiếu nguồn lao động, giai đoạn cơ cấu dân số “vàng”
ngắn lại và già hóa dân số diễn ra nhanh. Nếu mức sinh tăng lên tới mức từ 2,3
con trở lên/phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, quy mô dân số sẽ ở mức cao, điều này
sẽ gây áp lực lớn đối với các lĩnh vực y tế, giáo dục, lao động, việc làm… rất
bất lợi đối với sự phát triển kinh tế – xã hội và cơ cấu nhân khẩu học của đất
nước nói chung cũng như của tỉnh nói riêng trong tương lai.

Duy trì mức sinh
thay thế và giảm chênh lệch mức sinh giữa các vùng, địa phương sẽ góp phần ổn định
quy mô dân số, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tác động tích cực đến việc
nâng cao chất lượng dân số và nguồn lực cho phát triển ở mỗi địa phương và
trong toàn tỉnh.

Trong những năm
qua, được sự quan tâm, lãnh đạo của các cấp ủy, chính quyền, sự phối hợp chặt
chẽ của các ban ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội, sự ủng hộ của mọi tầng lớp
Nhân dân, công tác Dân số – Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) của tỉnh đã được triển
khai đồng bộ và đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần vào sự nghiệp phát triển
kinh tế – xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân trong tỉnh.

Bên cạnh những kết
quả đã đạt được, hiện nay công tác dân số của tỉnh còn nhiều khó khăn và thách
thức, đặc biệt là mục tiêu giảm sinh trên địa bàn tỉnh trong những năm qua. Từ
năm 2010 đến năm 2011: số con trung bình của một người phụ nữ trong độ tuổi
sinh đẻ của tỉnh Ninh Bình thấp hơn so với mức sinh thay thế: năm 2010: 1,88
con; năm 2011: 1,86 con. Tuy nhiên từ năm 2012 đến nay mức sinh tăng trở lại,
cao hơn so với mức sinh thay thế: năm 2012: 2,66 con và đến năm 2019 giảm xuống
còn 2,46 con1. Theo Điều tra biến động dân số vào
thời điểm 1/4 hằng năm, Ninh Bình là một trong 33 tỉnh có mức sinh cao trong
toàn quốc và tổng tỷ suất sinh (TFR) trung bình trong 5 năm (2015-2019) là 2,62
con2.

Giữa khu vực
thành thị và nông thôn có sự khác biệt về mức sinh. Ở khu vực thành thị mức
sinh luôn ở thấp hơn so với khu vực nông thôn: Năm 2011, số con trung bình của
một người phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ ở khu vực thành thị là 1,69 con, khu vực
nông thôn: 1,9 con; năm 2019: số con trung bình của một người phụ nữ trong độ
tuổi sinh đẻ ở khu vực thành thị: 2,26 con và khu vực nông thôn là 2,51 con. Tỷ
lệ tăng dân số bình quân từ năm 2011 đến năm 2019 là 1,13%. Tỷ suất sinh thô có
xu hướng tăng, năm 2011: 13,10‰, năm 2019: 16,90‰;3

Tỷ lệ áp dụng các
biện pháp tránh thai (BPTT) trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm nhẹ: năm 2016:
68,09%, năm 2017: 67,11%, năm 2018: 65,8% và năm 2019: 66,25%. Tỷ lệ sinh con
thứ 3 hằng năm tăng: năm 2016: 18,35%, năm 2019: 29,25%4.

2. Nguyên nhân mức sinh tăng

Tại một số địa
phương, đơn vị, cấp uỷ Đảng, chính quyền chưa thấy hết vai trò, tầm quan trọng
và tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài của công tác dân số nhất là trong giai
đoạn hiện nay nên chưa thực sự quan tâm, chưa quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo.
Công tác phối kết hợp của một số cơ quan, ban ngành trong việc tổ chức thực hiện
công tác dân số chưa được thường xuyên, hiệu quả chưa cao;

Chế tài xử lý vi
phạm chính sách dân số chưa đủ mạnh, vì vậy một số cán bộ, đảng viên còn vi phạm
(sinh con thứ 3 trở lên) làm ảnh hưởng đến hiệu quả công tác vận động quần
chúng nhân dân thực hiện chính sách dân số. Một số vấn đề mới nảy sinh chưa có
quy phạm pháp luật để điều chỉnh, gây khó khăn trong công tác quản lý và thực
thi pháp luật (xử lý đối với cán bộ, công chức, viên chức không phải là đảng
viên vi phạm chính sách dân số). Bên cạnh đó, một số cán bộ, đảng viên thiếu
tinh thần gương mẫu trong thực hiện chính sách dân số đã làm ảnh hưởng không nhỏ
đến công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục nhân dân thực hiện chính sách về
dân số.

Tâm lý, tập quán
trọng nam hơn nữ, muốn có đông con, phải có con trai để nối dõi, phát triển
dòng tộc, phụng dưỡng tuổi già tồn tại trong ý thức hệ của một bộ phận không nhỏ
nhân dân, kể cả một số cán bộ, đảng viên. Đây là những khó khăn thách thức lớn ảnh
hưởng đến việc thực hiện công tác dân số.

Công tác truyền
thông, vận động về dân số mặc dù đã có sự đổi mới về nội dung, hình thức, nhưng
cơ bản vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhất là ở vùng sâu, vùng xa, các xã khó
khăn, đặc thù; Các thông điệp truyền thông chưa kịp chuyển đổi phù hợp với biến
động mức sinh của từng vùng, từng nhóm đối tượng. Chính sách và nguồn lực đầu
tư chưa tính đến đặc thù mức sinh của từng địa phương, chưa tạo được sự chủ động,
quan tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc thực hiện chính sách
sinh đủ hai con. Đội ngũ cán bộ dân số xã và cộng tác viên thường xuyên biến động,
trình độ, năng lực và kinh nghiệm công tác còn hạn chế.

Đối tượng được hưởng
chính sách miễn phí phương tiện tránh thai bị thu hẹp. Bên cạnh đó nguồn tiếp
thị xã hội chưa đáp ứng nhu cầu của đối tượng về chủng loại, sản phẩm. Nhất là
dịch vụ cung cấp các biện pháp tránh thai lâm sàng chưa được triển khai rộng
rãi nên ảnh hưởng đến nhu cầu tiếp cận và sử dụng các biện pháp tránh thai của
các đối tượng.

Ngân sách của Nhà
nước đầu tư cho công tác dân số, nhất là ở tuyến huyện và tuyến xã còn hạn chế
chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, đặc biệt là kinh phí cho hoạt động truyền
thông.

III. MỤC TIÊU

– Đến năm 2025 đạt
mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con) trên
địa bàn toàn tỉnh.

– Từ năm 2026 trở
đi, duy trì một cách vững chắc mức sinh thay thế trên địa bàn toàn tỉnh.

IV. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

1. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ, chính quyền

a) Tiếp tục quán
triệt sâu sắc và cụ thể hơn nữa vai trò quan trọng của việc giảm chênh lệch mức
sinh giữa các vùng, các địa phương và duy trì mức sinh thay thế trong việc góp
phần ổn định quy mô dân số, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tác động tích cực
đến việc nâng cao chất lượng dân số và nguồn lực cho phát triển ở mỗi địa
phương và trong toàn tỉnh. Thống nhất nhận thức trong lãnh đạo và chỉ đạo cuộc
vận động mỗi gia đình, mỗi cặp vợ chồng sinh đủ hai con, nuôi dạy con tốt, xây
dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện giảm
sinh ở những địa phương có mức sinh còn cao, duy trì kết quả ở những nơi đã đạt
mức sinh thay thế, sinh đủ hai con ở những nơi có mức sinh thấp.

b) Trên cơ sở xác
định hiện trạng và xu hướng mức sinh của địa phương, đơn vị để xây dựng, ban
hành các văn bản chỉ đạo, kế hoạch với chỉ tiêu cụ thể về việc điều chỉnh mức
sinh của địa phương, đơn vị cho từng giai đoạn cụ thể hướng đến mục tiêu đạt mức
sinh thay thế – mỗi gia đình, cặp vợ chồng nên sinh hai con.

Đưa mục tiêu, chỉ
tiêu về quy mô dân số và mức sinh vào hệ thống chỉ tiêu kinh tế – xã hội của địa
phương; rà soát, bổ sung các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của
địa phương phù hợp với từng giai đoạn.

c) Cấp ủy đảng,
chính quyền chủ trì, huy động các ngành, đoàn thể, tổ chức tham gia thực hiện kế
hoạch; giao nhiệm vụ cụ thể cho từng địa phương, đơn vị trong tổ chức thực hiện.
Thường xuyên giám sát, kiểm tra; đánh giá tình hình thực hiện của các địa
phương, đơn vị để có biện pháp điều chỉnh kịp thời, phù hợp với điều kiện thực
tiễn của địa phương trong từng thời kỳ.

d) Ban hành quy định
đảm bảo sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thực hiện sinh đủ hai con,
nuôi dạy cho tốt, xây dựng gia đình tiến bộ, hạnh phúc; gắn kết quả thực hiện
các mục tiêu điều chỉnh mức sinh được giao cho các địa phương, đơn vị với việc
đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của lãnh đạo cấp ủy, chính quyền địa
phương, đơn vị, nhất là đối với người đứng đầu. Thường xuyên kiểm tra, giám
sát, đánh giá thực hiện quy định, đảm bảo sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên và
trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương, đơn vị.

2. Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động thay đổi hành vi

a) Tiếp tục đẩy mạnh
tuyên truyền sâu rộng các nội dung Chương trình hành động số 22-CTr/TU của Tỉnh
ủy thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị lần thứ sáu
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) về công tác dân số trong tình hình mới
nhằm tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội. Đặc biệt tập trung tuyên truyền nội
dung chuyển hướng chính sách về quy mô dân số từ tập trung vào nỗ lực giảm sinh
sang duy trì mức sinh thay thế trên phạm vi toàn tỉnh. Các huyện, thành phố phải
thực hiện “vận động sinh ít con hơn ở nơi (xã, phường, thị trấn) có mức sinh
còn cao, duy trì ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế và sinh thêm con ở những
nơi mức sinh đã xuống thấp”.

b) Xây dựng các
thông điệp truyền thông, nội dung tuyên truyền vận động phù hợp đối với từng
khu vực có mức sinh khác nhau.

Đối với địa
phương có mức sinh cao, tiếp tục thực hiện tuyên truyền về lợi ích của việc
sinh ít con đối với phát triển kinh tế – xã hội và nuôi dạy con tốt, xây dựng
gia đình hạnh phúc. Tập trung tuyên truyền, vận động không kết hôn và sinh con
quá sớm, không sinh quá dày và không sinh nhiều con. Đối tượng tuyên truyền, vận
động chủ yếu là các cặp vợ chồng đã sinh hai con và có ý định sinh thêm con. Khẩu
hiệu vận động là “Dừng ở hai con để nuôi, dạy cho tốt”.

Đối với các địa
phương đã đạt mức sinh thay thế và có mức sinh thấp, nội dung tuyên truyền, vận
động tập trung vào lợi ích của việc sinh đủ hai con; các yếu tố bất lợi của việc
kết hôn, sinh con quá muộn, sinh ít con đối với sự phát triển kinh tế – xã hội,
đối với gia đình và chăm sóc bố, mẹ khi về già. Tập trung vận động nam, nữ
thanh niên không kết hôn muộn, không sinh con muộn, mỗi cặp vợ chồng sinh đủ
hai con và nuôi dạy con tốt. Đối tượng tuyên truyền vận động chủ yếu là nam, nữ
thanh niên chưa kết hôn; gia đình, cặp vợ chồng chưa sinh đủ hai con.

c) Đẩy mạnh các
hoạt động tuyên truyền, vận động với các hình thức đa dạng, phong phú và thiết
thực, phù hợp với văn hóa, tập quán từng nhóm đối tượng và từng vùng mức sinh.
Nâng cao hiệu quả của truyền thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, chú
trọng việc sử dụng phương tiện truyền thông đa phương tiện, internet và mạng xã
hội. Sử dụng hợp lý các loại hình văn hóa, văn nghệ, giải trí. Phát huy vai trò
của những người có ảnh hưởng với công chúng, gia đình và dòng họ như: những người
nổi tiếng trong các lĩnh vực chính trị, khoa học, văn hóa, nghệ thuật, thể
thao, già làng, trưởng bản… Đặc biệt quan tâm đẩy mạnh các hoạt động truyền
thông trực tiếp, nhất là các hoạt động truyền thông tại nhà, tại cộng đồng
thông qua đội ngũ cộng tác viên dân số, nhân viên y tế thôn/bản và tuyên truyên
viên của các ngành, đoàn thể cơ sở. Duy trì và tăng cường tính hiệu quả các đợt
cao điểm truyền thông, vận động và cung cấp dịch vụ dân số/sức khoẻ sinh sản/kế
hoạch hoá gia đình trên địa bàn toàn tỉnh và tập trung chú trọng tại các địa
bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.

d) Đổi mới toàn
diện nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục về dân số, sức khỏe sinh sản
trong và ngoài nhà trường phù hợp với từng cấp học, lứa tuổi trong hệ thống
giáo dục. Mục tiêu của giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản phải đảm bảo trang bị
có hệ thống cho người học các kiến thức, kỹ năng cơ bản về cấu tạo, cơ chế hoạt
động của các cơ quan sinh sản ở người, chăm sóc sức khỏe sinh sản; phòng tránh
mang thai ngoài ý muốn, vô sinh và các bệnh lây truyền qua đường tình dục; định
hình giá trị mỗi gia đình nên có hai con vì lợi ích gia đình và tương lai bền vững
của đất nước. Tập huấn, đào tạo giảng viên tuyến tỉnh cho các đối tượng là giáo
viên, nhân viên y tế học đường tham gia giảng dạy về dân số/Sức khỏe sinh sản.
Thí điểm và từng bước mở rộng triển khai chương trình giáo dục dân số/sức khỏe
sinh sản trong và ngoài nhà trường trong tình hình mới.

e) Thí điểm triển
khai mở rộng thực hiện chương trình giáo dục bắt buộc trước khi kết hôn đối với
thanh niên nam, nữ chuẩn bị kết hôn. Chương trình phải bảo đảm cung cấp cho
nam, nữ chuẩn bị kết hôn các kiến thức về chăm sóc sức khỏe sinh sản liên quan
trực tiếp đến cuộc sống vợ chồng; chăm sóc, nuôi dạy con, quản lý kinh tế gia
đình; củng cố giá trị mỗi gia đình nên có hai con, nuôi dạy con tốt và xây dựng
gia đình bình đẳng, ấm no, tiến bộ, hạnh phúc.

3. Điều chỉnh, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ, khuyến khích

a) Rà soát, đề xuất
sửa đổi các quy định không còn phù hợp với mục tiêu duy trì vững chắc mức sinh
thay thế, đặc biệt là các quy định xử lý vi phạm chính sách dân số hiện hành.

Đề xuất ban hành
quy định về việc đề cao tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên
trong việc sinh đủ hai con, nuôi dạy con tốt, xây dựng gia đình hạnh phúc.

b) Cụ thể hóa các
chính sách hỗ trợ, khuyến khích phù hợp với đặc điểm mức sinh của các địa
phương có mức sinh khác nhau.

– Đối với địa
phương có mức sinh cao, tiếp tục áp dụng và nâng cao hiệu quả thực hiện các
chính sách hỗ trợ, khuyến khích hiện hành như khuyến khích các cặp vợ chồng,
gia đình, tập thể, cộng đồng không có người sinh con thứ ba trở lên; hỗ trợ người
dân thực hiện dịch vụ kế hoạch hóa gia đình, bao gồm phương tiện tránh thai; bồi
dưỡng, hỗ trợ người thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ, người vận động thực hiện
kế hoạch hóa gia đình …

– Đối với các địa
phương đã đạt mức sinh thay thế và có mức sinh thấp cần rà soát, nghiên cứu ban
hành, thực hiện chính sách khuyến khích sinh đủ hai con, bãi bỏ các chính sách
khuyến khích sinh ít con. Ở những địa phương đã có mức sinh dưới mức sinh thay
thế thí điểm, mở rộng thực hiện các chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng sinh
con, nuôi dạy con; đồng thời có chính sách không khuyến khích kết hôn muộn,
sinh con muộn và sinh ít con.

Các nhiệm vụ cần
thực hiện:

+ Rà soát bãi bỏ
các quy định của các tổ chức, cơ quan, đơn vị, cộng đồng liên quan đến mục tiêu
giảm sinh, tiêu chí giảm sinh con thứ ba trở lên…

+ Sửa đổi, bổ
sung các chính sách hỗ trợ, khuyến khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con trên
cơ sở phân tích, đánh giá tác động của các chính sách về lao động, việc làm,
nhà ở; phúc lợi xã hội; giáo dục; y tế,… đến việc sinh ít con; xây dựng, triển
khai các mô hình can thiệp thích hợp.

+ Nghiên cứu, ban
hành các chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng sinh đủ hai con. Một số nội dung hỗ
trợ, khuyến khích cần thí điểm như sau:

Hỗ trợ tư vấn,
cung cấp dịch vụ hôn nhân và gia đình: Phát triển các câu lạc bộ kết bạn trăm
năm, hỗ trợ nam, nữ thanh niên kết bạn; tư vấn sức khỏe trước khi kết hôn; khuyến
khích nam, nữ kết hôn trước 30 tuổi không kết hôn muộn và sớm sinh con, phụ nữ
sinh con thứ hai trước 35 tuổi,…

Xây dựng môi trường,
cộng đồng phù hợp với các gia đình nuôi con nhỏ. Thí điểm, nhân rộng các dịch vụ
thân thiện với người lao động như đưa đón trẻ, trông trẻ, ngân hàng sữa mẹ, bác
sỹ gia đình; bổ sung chính sách hỗ trợ để giảm gánh nặng chi phí nuôi con nhỏ,
bảo đảm việc làm cho phụ nữ sau sinh; xây dựng môi trường phù hợp với phụ nữ
nuôi con nhỏ ở nhóm đối tượng có điều kiện thấp… Chú trọng quy hoạch, xây dựng
các điểm trông, giữ trẻ, nhà mẫu giáo, chăm sóc y tế phù hợp với điều kiện của
bà mẹ, nhất là các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị.

Hỗ trợ phụ nữ khi
mang thai, sinh con và sinh đủ hai con: Tư vấn, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ
em bao gồm sàng lọc vô sinh, sàng lọc trước sinh và sau sinh, phòng chống suy
dinh dưỡng; tạo điều kiện trở lại nơi làm việc cho phụ nữ sau khi sinh con; miễn
giảm các khoản đóng góp công ích theo hộ gia đình…

Hỗ trợ, khuyến
khích các cặp vợ chồng sinh đủ hai con: mua nhà ở xã hội, thuê nhà ở; ưu tiên
vào các trường công lập, hỗ trợ chi phí giáo dục trẻ em; xây dựng mô hình quản
lý, phát triển kinh tế gia đình; từng bước thí điểm các biện pháp tăng trách
nhiệm đóng góp xã hội, cộng đồng đối với những trường hợp cá nhân không muốn kết
hôn hoặc kết hôn quá muộn.

4. Mở rộng tiếp cận các dịch vụ sức khỏe sinh sản/kế hoạch hóa gia đình
và các dịch vụ có liên quan

a) Phổ cập dịch vụ
KHHGĐ, chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) tới mọi người dân đảm bảo công bằng,
bình đẳng trong tiếp cận, sử dụng dịch vụ, không phân biệt giới, người đã kết
hôn, người chưa kết hôn. Đảm bảo hỗ trợ phương tiện tránh thai và dịch vụ KHHGĐ
cho đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, đối tượng chính sách, vùng có mức sinh cao
theo quy định. Tổ chức cung ứng các dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ thân thiện cho
vị thành niên, thanh niên; công nhân khu công nghiệp. Tổ chức các hoạt động
thúc đẩy tiếp thị xã hội, xã hội hóa cung cấp dịch vụ KHHGĐ, chăm sóc SKSS. Xây
dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đảm bảo an ninh và thị trường tổng thể
phương tiện tránh thai, dịch vụ KHHGĐ.

b) Xây dựng và
triển khai các loại hình phòng, tránh vô sinh từ tuổi vị thành niên tại cộng đồng;
đẩy mạnh chuyển giao công nghệ, phát triển mạng lưới hỗ trợ sinh sản. Củng cố
và phát triển mạng lưới sàng lọc vô sinh; tích cực chuyển giao công nghệ hỗ trợ
sinh sản. Thí điểm mô hình xã hội hóa dịch vụ dự phòng, sàng lọc vô sinh, ung
thư đường sinh sản tại cộng đồng cho nhóm dân số trẻ đáp ứng nhu cầu và khả
năng chi trả của người dân.

c) Đối với địa
bàn vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, vùng ven biển: Tổ
chức các loại hình cung cấp dịch vụ phù hợp; tư vấn kiểm tra sức khỏe, phát hiện
sớm, phòng tránh các yếu tố nguy cơ dẫn đến sinh con dị tật, mắc các bệnh, tật ảnh
hưởng đến việc suy giảm chất lượng nòi giống.

5. Các nhiệm vụ và giải pháp khác

a) Đào tạo, tập
huấn và bồi dưỡng

Cập nhật kiến thức
mới, tập huấn lại bảo đảm cho đội ngũ cộng tác viên dân số thực hiện đầy đủ, có
hiệu quả việc tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện sinh đủ hai con và tham
gia cung cấp một số dịch vụ tới tận hộ gia đình. Đối với nơi có mức sinh thấp,
khẩn trương tập huấn cho toàn bộ cộng tác viên, tuyên truyền viên về kiến thức,
kỹ năng mới đáp ứng nhiệm vụ chuyển trọng tâm từ giảm sinh sang sinh đủ hai
con.

Đẩy mạnh đào tạo,
bồi dưỡng, nâng cao năng lực cán bộ làm công tác dân số các cấp, các ngành,
đoàn thể, tổ chức xã hội, đặc biệt là kiến thức, kỹ năng lồng ghép các nội dung
điều chỉnh mức sinh vào nhiệm vụ, hoạt động của các ngành, đơn vị.

Đưa nội dung về
điều chỉnh mức sinh vào chương trình đào tạo, tập huấn cán bộ lãnh đạo, quản lý
các cấp.

b) Nghiên cứu
khoa học và hệ thống thông tin quản lý

Nghiên cứu, thực
hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ về quy mô dân số, mức sinh trong mối quan hệ
qua lại với phát triển kinh tế – xã hội; các nghiên cứu tác nghiệp về những giải
pháp, can thiệp nhằm điều chỉnh mức sinh phù hợp cho từng giai đoạn và từng địa
phương.

Củng cố, hoàn thiện
hệ thống chỉ báo, chỉ tiêu về quy mô dân số và mức sinh. Đưa chỉ tiêu duy trì vững
chắc mức sinh thay thế vào hệ thống các chỉ tiêu kinh tế – xã hội của tỉnh giai
đoạn 2021 – 2030. Thường xuyên cung cấp, thông tin về động thái dân số và thực
trạng mức sinh cho các cơ quan chỉ đạo, điều hành ở tỉnh và các huyện, thành phố.

c) Học tập, trao
đổi kinh nghiệm

Tổ chức học tập
và trao đổi kinh nghiệm với các tỉnh, giữa các huyện trong tỉnh về quy mô dân số
và mức sinh, biện pháp điều chỉnh mức sinh, đặc biệt là tại các đơn vị đã đạt kết
quả trong việc đạt và duy trì mức sinh thay thế.

d) Kiểm tra, giám
sát, đánh giá

Định kỳ kiểm tra,
giám sát hỗ trợ, đánh giá việc thực hiện chương trình kịp thời đề xuất cơ chế,
chính sách phù hợp với thực tiễn.

Sơ kết, tổng kết
thực hiện chương trình, nhất là đánh giá giai đoạn đầu của chương trình để điều
chỉnh cho phù hợp với giai đoạn tiếp theo.

V. KINH PHÍ THỰC HIỆN

Kinh phí thực hiện
Kế hoạch do ngân sách nhà nước đảm bảo theo phân cấp ngân sách hiện hành, được
bố trí trong dự toán chi của các cơ quan, đơn vị thực hiện công tác dân số theo
quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và từ các nguồn kinh phí hợp pháp khác.

Hằng năm, trên cơ
sở các nhiệm vụ cụ thể, Sở Y tế xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí gửi Sở Tài
chính thẩm định, trình UBND tỉnh xem xét, quyết định đảm bảo cho hoạt động của
Kế hoạch; UBND các huyện, thành phố và UBND các xã/phường/thị trấn bố trí kinh
phí hỗ trợ cho các hoạt động của địa phương.

VI. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Thời gian
thực hiện

Kế hoạch được thực
hiện từ năm 2020 đến năm 2030 và được chia làm 2 giai đoạn:

– Giai đoạn 2020
– 2025: Thực hiện giảm sinh ở những vùng có mức sinh cao, nâng mức sinh ở vùng
có mức sinh thấp trên quan điểm mỗi gia đình sinh đủ hai con. Thí điểm và mở rộng
mô hình khuyến khích cặp vợ chồng sinh đủ 2 con.

– Giai đoạn 2026
– 2030: Đánh giá, điều chỉnh, mở rộng và nâng cao chất lượng các hoạt động.

2. Nhiệm vụ của
các sở, ngành và địa phương

Các Sở, ngành, địa
phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ cụ thể được giao, tình hình thực tế tại địa
phương, đơn vị xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện kế hoạch này.

a) Sở Y tế

Chủ trì, phối hợp
với Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính và các sở, ngành liên quan, Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên, UBND các huyện, thành phố
triển khai Kế hoạch hành động này trên phạm vi toàn tỉnh, bảo đảm gắn kết chặt
chẽ với các kế hoạch, chương trình, đề án có liên quan do các sở, ngành, đơn vị
chủ trì thực hiện.

Tham mưu xây dựng
kế hoạch cụ thể từng năm và chịu trách nhiệm chỉ đạo hướng dẫn các đơn vị trong
ngành Y tế tăng cường phối hợp, tham mưu với các đơn vị chức năng và Uỷ ban
nhân dân cùng cấp để tổ chức thực hiện đạt hiệu quả.

Tăng cường kiểm
tra, giám sát, tổng hợp tình hình thực hiện Kế hoạch định kỳ báo cáo Uỷ ban
nhân dân tỉnh; tổ chức sơ kết vào cuối năm 2025 và tổng kết thực hiện vào cuối
năm 2030.

b) Sở Kế hoạch và
Đầu tư

– Phối hợp với Sở
Tài chính, Sở Y tế tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh bố trí các nguồn kinh phí
thực hiện Kế hoạch;

– Hướng dẫn, thực
hiện việc lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu về điều chỉnh mức sinh và các nội
dung công tác dân số vào chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

c) Sở Tài chính

Hằng năm, căn cứ
khả năng ngân sách, tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh bố trí kinh phí để thực
hiện Kế hoạch theo quy định hiện hành.

d) Sở Giáo dục và
Đào tạo

Chủ trì, phối hợp
với Sở Y tế và các sở, ngành liên quan chủ động đưa nội dung giáo dục về dân số,
chăm sóc sức khỏe sinh sản vào các trường học, xây dựng mạng lưới truyền thông,
tư vấn về sức khỏe sinh sản cho học sinh và sinh viên… qua tích hợp, lồng ghép
trong các môn học và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của các nhà trường
theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

đ) Sở Lao động –
Thương binh và Xã hội

Chủ trì, phối hợp
với các ban, ngành và địa phương rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn
thực hiện chính sách an sinh xã hội cho các đối tượng ưu tiên, đặc biệt công
nhân làm việc trong các khu công nghiệp, khu kinh tế để vận động, khuyến khích
sinh đủ hai con.

e) Sở Thông tin
và Truyền thông

Chỉ đạo các cơ
quan báo chí, thông tin tuyên truyền trên địa bàn tỉnh để đẩy mạnh và đổi mới
các hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục chuyển đổi hành vi về dân số, sức
khỏe sinh sản; lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu về tuyên truyền công tác dân số
vào quy hoạch, kế hoạch phát triển của ngành.

g) Sở Văn hóa và
Thể thao

Chủ trì, phối hợp
với Sở Y tế và các đơn vị liên quan nghiên cứu, rà soát, chỉ đạo bổ sung chỉ
tiêu điều chỉnh mức sinh vào hương ước, quy ước xây dựng gia đình, cơ quan, đơn
vị, thôn bản, tổ dân phố văn hóa trong toàn tỉnh. Xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn
đánh giá, công nhận làng, thôn, bản, cơ quan, đơn vị văn hóa gắn liền với tiêu
chí sinh con theo đúng chính sách của Nhà nước; tăng cường công tác thanh tra,
kiểm tra, quản lý chặt chẽ các cơ sở xuất bản, kinh doanh các loại sách, báo,
văn hoá phẩm đối với việc thực hiện quy định của pháp luật về nghiêm cấm tuyên
truyền, phổ biến sai chính sách điều chỉnh mức sinh của Nhà nước; xử lý các trường
hợp vi phạm theo quy định của pháp luật.

h) Đài Phát thanh
– Truyền hình tỉnh, Báo Ninh Bình

Đẩy mạnh công tác
tuyên truyền về công tác dân số; tăng thời lượng, nâng cao chất lượng tin, bài,
ảnh xây dựng các chuyên trang, chuyên mục với thời lượng thích hợp để tuyên
truyền kết quả thực hiện chính sách dân số, kịp thời nêu gương những điển hình,
nhân tố mới, đồng thời phê phán những tập thể, cá nhân vi phạm chính sách dân số.

i) Cục Thống kê tỉnh

Phối hợp với Sở Y
tế trong việc cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin số liệu về dân số, biến động
dân số, điều tra đánh giá chất lượng dân số, mức tăng, giảm sinh trong toàn tỉnh
theo quy định.

k) Các sở, ngành
khác: Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế và sở, ngành liên quan tổ chức triển khai Kế
hoạch hành động này trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao.

l) Đề nghị Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên

Căn cứ chức năng,
nhiệm vụ của mình triển khai thực hiện và giám sát việc thực hiện Kế hoạch này;
đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức của
các đoàn viên, hội viên về chương trình điều chỉnh mức sinh.

m) Uỷ ban nhân
dân các huyện, thành phố:

Căn cứ vào Kế hoạch
thực hiện của Ủy ban nhân dân tỉnh, xây dựng kế hoạch thực hiện của địa phương,
đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương; chỉ đạo các ban, ngành
đoàn thể trên địa bàn và Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn triển khai thực
hiện. Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công tác dân số tại địa
phương, tổng hợp báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh theo quy định (qua cơ quan thường
trực – Sở Y tế).

Trên đây là Kế hoạch
thực hiện Chương trình điều chỉnh mức sinh đến năm 2030 của tỉnh Ninh Bình,
UBND tỉnh yêu cầu các ban, sở, ngành, địa phương căn cứ vào nhiệm vụ được giao
nghiêm túc triển khai, thực hiện./.

 


Nơi nhận:
– Bộ Y tế (B/c);
– Thường trực Tỉnh ủy (B/c);
– Lãnh đạo HĐND tỉnh;
– Lãnh đạo UBND tỉnh;
– Các Sở, Ban, ngành, đoàn thể tỉnh;
– UBND các huyện, thành phố;
– Lưu: VT, VP2, VP4, VP5, VP6.
5.Tr11_KHYT

TM. ỦY BAN NHÂN
DÂN
KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH


Tống Quang Thìn

 



1 Niên giám Thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2019 – Cục
Thống kê tỉnh Ninh Bình;

2 Quyết định số 2324/QĐ-BYT của Bộ Y tế ngày
05/6/2020;

3 Niên giám Thống kê tỉnh Ninh Bình năm 2019 – Cục
Thống kê tỉnh Ninh Bình;

4 Báo cáo chuyên ngành hằng năm của Chi cục Dân số
– KHHGĐ tỉnh.

Kế hoạch 108/KH-UBND năm 2020 về thực hiện Chương trình điều chỉnh mức sinh đến năm 2030 tỉnh Ninh Bình

Tải văn bản file Word, PDF về máy

Chờ 30s để file Word hoặc PDF tự động tải về máy tính

Nếu tập tin bị lỗi, bạn đọc vui lòng liên hệ để được hỗ trợ download file