Tải Kế hoạch 41/KH-UBND năm 2020 về thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030 tỉnh Lạng Sơn – Tải File Word, PDF [DownLoad]



Kế hoạch 41/KH-UBND năm 2020 về thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030 tỉnh Lạng Sơn

Số hiệu: 41/KH-UBND Loại văn bản: Văn bản khác
Nơi ban hành: Tỉnh Lạng Sơn Người ký: Dương Xuân Huyên
Ngày ban hành: 09/03/2020
Ngày hiệu lực:
Đã biết
Ngày công báo: Đang cập nhật Số công báo: Đang cập nhật
Tình trạng: Đã biết

Tóm tắt văn bản

Nội dung văn bản

Bạn đang xem: Tải Kế hoạch 41/KH-UBND năm 2020 về thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030 tỉnh Lạng Sơn – Tải File Word, PDF [DownLoad]

Kế hoạch 41/KH-UBND năm 2020 về thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030 tỉnh Lạng Sơn

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH LẠNG SƠN
——-

CỘNG HÒA XÃ HỘI
CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————

Số: 41/KH-UBND

Lạng Sơn, ngày 09
tháng 3 năm 2020

 

KẾ HOẠCH

HÀNH ĐỘNG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2020
– 2025, TẦM NHÌN ĐẾN 2030 TỈNH LẠNG SƠN

Sau 10 năm thực hiện Chiến lược
Dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020, công tác dân số của
tỉnh đã đạt được những kết quả quan trọng góp phần vào sự nghiệp phát triển
kinh tế – xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân các dân tộc trong
tỉnh. Nhận thức và hành động của đại bộ phận người dân về chính sách dân số – kế
hoạch hoá gia đình (viết tắt là KKHGĐ) Đã có những chuyển biến tích cực; quy mô
gia đình có 2 con được chấp nhận ngày càng rộng rãi; khống chế được tốc độ tăng
tỷ số giới tỉnh khi sinh trên địa bàn toàn tỉnh ở mức trên 0,4 điểm phần
trăm/năm; các mô hình về quy mô, cơ cấu và nâng cao chất lượng dân số được xây
dựng và thực hiện có hiệu quả.

Bên cạnh những kết quả đã đạt
được, hiện nay công tác dân số của tỉnh còn nhiều khó khăn và thách thức như: Mức
sinh chưa ổn định, chưa đạt mức sinh thay thế (TFR) và có nguy cơ tăng sinh trở
lại. Chất lượng dân số mặc dù đã được cải thiện song vẫn còn thấp. Mất cân bằng
giới tính khi sinh (SRB) vẫn ở mức cao so với mức bình quân của cả nước, tỷ lệ
sinh con thứ 3 trở lên có xu hướng gia tăng. Lợi thế của dân số vàng khai thác
chưa hiệu quả. Dân số của tỉnh bước vào giai đoạn già hóa nhưng chưa có giải
pháp đồng bộ để thích ứng. Tổ chức bộ máy làm công tác dân số biến động mạnh,
nguồn lực đầu tư cho công tác dân số còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm
vụ mới như Kế hoạch số 51-KH/TU ngày 26/01/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề
ra.

Từ những khó khăn, thách thức
trên đặt ra cho công tác dân số tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tới cần xây dựng
Kế hoạch hành động thiết thực giải quyết những vấn đề còn hạn chế, những vấn đề
mới phát sinh theo định hướng Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2030.

Phần thứ
nhất

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÔNG
TÁC DÂN SỐ GIAI ĐOẠN 2011 – 2020

I. KẾT QUẢ ĐẠT
ĐƯỢC

1. Về quy
mô dân số và mức sinh

Quy mô dân số tỉnh Lạng Sơn là
781.655 người (theo số liệu tổng điều tra dân số 01/4/2019). Kể từ năm 2009 đến
nay, quy mô dân số Lạng Sơn tăng thêm 49.140 người. Tỷ lệ tăng dân số bình quân
năm giai đoạn 2009 – 2019 là 0,65%/năm, tăng ít so với giai đoạn 10 năm trước
(0,4%/năm).

Tổng tỷ suất sinh (TFR) của Lạng
Sơn năm 2019 đạt 2,13 con/phụ nữ (năm 2015 là 2,38 con). Xu thế giảm sinh
tiếp tục được duy trì, tỷ suất sinh thô toàn tỉnh giảm từ 15,9‰ năm 2011 đến
năm 2018 còn 15,78‰; tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên bình quân hàng năm khoảng
10% tổng số trẻ sinh.

2. Về cơ cấu
dân số

Nằm trong xu thế chung của cả
nước dân số tỉnh Lạng Sơn đang trong giai đoạn cơ cấu dân số vàng, tỷ trọng dân
số dưới 15 tuổi chiếm 25,1%, tỉ trọng người 15 – 64 tuổi chiếm 68,1% tổng dân số,
dân số từ 65 tuổi trở lên chiếm 6,7%; tỷ số phụ thuộc trẻ em (0 – 14 tuổi) là
36,8%. Đồng thời, bước vào thời kỳ già hoá, số người trên 65 tuổi chiếm 9,8% tổng
dân số.

Bước đầu kiểm soát được mức
tăng tỉ số giới tính khi sinh, hàng năm đạt kế hoạch về tốc độ giảm tỉ số giới
tính khi sinh (năm 2017 ở mức 116,7 trẻ em trai/100 trẻ em gái; năm 2019 là
115,8 trẻ em trai/100 trẻ em gái).

3. Chất lượng
dân số

Chất lượng dân số của tỉnh đã
được nâng lên rõ rệt cả về thể lực và trí lực, thông qua các chương trình, đề
án chăm sóc sức khoẻ, nâng cao chất lượng dân số. Chỉ số phát triển con người
(HDI) của tỉnh đang từng bước được cải thiện. Tuổi thọ bình quân 75,1 tuổi/năm
20191; tỉ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi giảm
19,2‰ năm 2011 còn 17,59‰ năm 20182; tỉ lệ suy
dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi hàng năm được cải thiện3;
tỉ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khoẻ tiền hôn nhân đạt khoảng
50%; số cặp tảo hôn tại các huyện có triển khai can thiệp theo đề án chính sách
dân số của tỉnh năm sau giảm hơn năm trước bình quân khoảng 2%. Từ năm 2017 đến
nay không có tình trạng hôn nhân cận huyết thống; năm 2019 có trên 45% số trẻ
em sinh ra được sàng lọc sơ sinh và trên 50% phụ nữ mang thai được được sàng lọc
trước sinh; tỷ lệ người cao tuổi được khám sức khoẻ định kỳ ít nhất 1 lần/năm đạt
trên 50% tổng số người cao tuổi, có khoảng 90% người cao tuổi được cấp thẻ bảo
hiểm y tế4.

4. Về phân
bổ dân số

Theo kết quả điều tra dân số
01/4 hàng năm, từ năm 2011 đến năm 2018 dân số thành thị tăng 18.808 người (tăng
bình quân 2351 người/năm, tương đương 124 người/phường, thị trấn/năm), nông
thôn tăng 32.782 người (tăng dân số bình quân 4.098 người/năm, tương đương 20
người/xã/năm); tỷ suất nhập cư của tỉnh Lạng Sơn năm 2018 là 2,2‰, giảm 4‰ so với
năm 2011 (6,2‰). Tỷ suất xuất cư của tỉnh Lạng Sơn năm 2018 là 3,02‰, giảm 4,9‰
so với năm 2011 là 8,10‰5.

Dân số đã ly hôn hoặc ly thân
chiếm1,4% trong tổng dân số từ 15 tuổi trở lên (theo kết quả tổng điều tra dân
số và nhà ở năm 2019).

Mật độ dân số của Lạng Sơn là
94 người/km2, tăng 6 người/km2 so với năm 2009. Thành phố
Lạng Sơn có mật độ dân số cao nhất tỉnh 1.325 người/km2, thấp nhất
là huyện đình Lập 24 người/km2.

5. Công tác
truyền thông, giáo dục về dân số

Công tác truyền thông về dân số
đã tạo được sự đồng thuận trong Nhân dân, làm chuyển biến về nhận thức, tâm lý,
tập quán của cộng đồng. Nhận thức và hành động của đại bộ phận người dân về dân
số đã có những chuyển biến tích cực, kết quả: 95% các cặp vợ chồng có hiểu biết
cơ bản về lợi ích của dân số và phát triển, sức khỏe sinh sản và các biện pháp
tránh thai; 80% các cặp vợ chồng được tuyên truyền về thực trạng, nguyên nhân
và hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh; 50% thanh niên trước khi đăng ký
kết hôn được tư vấn về sức khỏe tiền hôn nhân, tác hại của nạo phá thai; 70%
người chưa thành niên, thanh niên được tuyên truyền về tác hại của tảo hôn và
hôn nhân cận huyết thống…

6. Dịch vụ
dân số – KHHGĐ

Tổ chức mạng lưới cung cấp dịch
vụ sức khỏe sinh sản từ tuyển tỉnh đến tuyến xã đã từng bước củng cố, phát triển
đáp ứng cung cấp các dịch vụ cơ bản cho Nhân dân. Đảm bảo tính sẵn có của dịch
vụ kế hoạch hoá gia đình, chăm sóc sức khoẻ sinh sản thiết yếu cơ bản, 100% Trạm
Y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi; đảm bảo cung cấp các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe sinh sản, chăm sóc bà mẹ trước, trong và sau sinh. Đa dạng các biện
pháp tránh thai để tăng sự lựa chọn cho người dân thông qua triển khai thực hiện
đề án xã hội hóa phương tiện tránh thai và dịch vụ KHHGĐ/sức khỏe sinh sản. Tổ
chức cấp các phương tiện tránh thai ở kênh miễn phí cho các đối tượng hộ nghèo,
cận nghèo và gia đình chính sách và cung ứng phương tiện tránh thai qua kênh xã
hội hóa và tiếp thị xã hội cho các đối tượng còn lại có khả năng chi trả để có
biện pháp tránh thai và hàng hóa sức khỏe sinh sản có chất lượng cao nhằm giảm
gánh nặng ngân sách của nhà nước được Nhân dân hưởng ứng ngày càng cao.

Đến nay, tất cả bệnh viện tuyến
tỉnh (trừ các bệnh viện chuyên khoa), Trung tâm y tế huyện, thành phố đã thực
hiện cung cấp dịch vụ sàng lọc trước sinh, sàng lọc sơ sinh theo hình thức xã hội
hóa cho các đối tượng có nhu cầu; tỷ lệ sàng lọc trước sinh chiếm 46,87% số bà
mẹ mang thai; tỷ lệ sàng lọc sơ sinh chiếm 47,23% số trẻ em sinh.

7. Công tác
tổ chức, quản lý, điều hành

Hệ thống tổ chức, nhân sự làm
công tác dân số được kiện toàn theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả; bảo
đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, đồng thời thực
hiện quản lý chuyên môn thống nhất. Có chính sách đãi ngộ với đội ngũ cộng tác
viên dân số tại thôn, bản.

Trong giai đoạn 2011 – 2020, Tỉnh
ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành đồng bộ hệ thống các văn bản nhằm cụ thể hóa
các chính sách, kế hoạch, đề án phù hợp định hướng của trung ương và tình hình
thực tiễn tại địa phương. Các văn bản được ban hành đã tạo hành lang pháp lý
thuận lợi để các cấp, các ban ngành, đoàn thể tổ chức thực hiện. Chi tiêu kế
hoạch công tác dân số – KHHGĐ và chăm soc sức khỏe sinh sản hàng năm đươc đưa
vào kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội các cấp. Chính sách về dân số được đưa
vào hương ước quy ước của xóm, tổ dân phố.

II. HẠN CHẾ,
BẤT CẬP

1. Kết quả giảm sinh
chưa đảm bảo được tính bền vững, số con trung bình của một phụ nữ trong tuổi
sinh đẻ chưa đạt mức sinh thay thế (2,13 con/phụ nữ/năm 2019 ) và có nguy cơ
tăng sinh trở lại (tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009 – 2019 là
0,65%/năm, tăng ít so với giai đoạn 10 năm trước (0,4%/năm); tỷ lệ trẻ mới sinh
là con thứ 3 trở lên vẫn có chiều hướng gia tăng6,
đặc biệt ở một số địa bàn, hộ gia đình có kinh tế khá giả.

2. Tỉ số mất cân bằng giới
tính khi sinh đang ở mức khá cao (115,8 trẻ trai/100 trẻ gái/năm 2019) và không
ổn định; tỷ lệ ly hôn/ly thân gia tăng từ 1,10% năm 2011 lên 1,4% năm 2019; tỷ lệ
lao động chưa qua đào tạo, tỷ lệ người thiếu việc làm và thất nghiệp còn cao. Vấn
đề đảm bảo việc làm cho người lao động đã và đang đặt ra thách thức lớn của tỉnh.

3. Chất lượng dân số được
cải thiện chưa nhiều. Vấn đề về chăm sóc sức khỏe sinh sản chưa được giải quyết
tốt. Việc điều phối cung ứng phương tiện tránh thai chưa linh hoạt. Việc đáp ứng
nhu cầu thông tin, kiến thức, dịch vụ về sức khỏe sinh sản, sức khoẻ tình dục
cho các nhóm dân số như người dân tộc thiểu số, người chưa thành niên, người di
cư, người khuyết tật, người có HIV… còn hạn chế; tỷ lệ mang gen Thalassamia của
đồng bào các dân tộc thiểu số chưa được quan tâm đầu tư thỏa đáng; tỷ lệ sàng lọc
sơ sinh chủ yếu là siêu âm hình thái thai nhi, hầu như chưa làm được các xét
nghiệm sàng lọc cho bà mẹ trước sinh; vấn đề theo dõi, tư vấn, chăm sóc cho những
trẻ được xác định bệnh qua sàng lọc sơ sinh chưa được quan tâm đúng mức; tình
trạng quan hệ tình dục sớm, có thai tuổi vị thành niên, phá thai không an toàn,
ly hôn, ly thân sớm trong giới trẻ có chiều hướng gia tăng, cũng để lại những hậu
quả, làm giảm chất lượng dân số của các thế hệ tương lai.

4. Phân bố dân cư, quản
lý nhập cư, di dân còn nhiều bất cập. Mật độ dân số của tỉnh là 94 người/km2,
phân bố không đều, tập trung đông ở khu vực thành thị; tuy nhiên tỷ lệ dân số sống
ở thành thị còn thấp7. Bên cạnh đó, việc quan tâm
đến chất lượng dân số khu vực biên giới chưa được nhiều, nhất là việc thực hiện
các mô hình, đề án về cơ cấu, nâng cao chất lượng dân số còn dàn trải, chưa ưu
tiên đúng mức cho các hoạt động ở khu vực dân cư này.

5. Công tác truyền
thông, giáo dục về dân số còn chậm đổi mới, chưa phát huy được vai trò của công
nghệ thông tin trong cung cấp thông tin. Nội dung, hình thức truyền thông chưa
thật phù hợp đối tượng và đặc điểm từng vùng; việc phối hợp giữa truyền thông
và cung cấp dịch vụ dân số – sức khỏe sinh sản còn những điểm yếu kém, đặc biệt
ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Các thông điệp truyền thông về dân số chưa kịp
chuyển đổi cho phù hợp với những vấn đề dân số mới phát sinh của quá trình biến
động dân số trong thực tế. Việc xây dựng, duy trì và phát triển các mô hình
truyền thông về dân số – KHHGĐ ở cơ sở còn mang tính hình thức. Bên cạnh đó,
kinh phí cho công tác tuyên truyền giáo dục bị cắt giảm mạnh không tương xứng với
các nhiệm vụ về dân số và phát triển hiện nay.

6. Việc cung cấp các dịch
vụ dân số – KHHGĐ còn nhiều hạn chế, chưa chủ động được nguồn phương tiện tránh
thai và tính sẵn có cho đối tượng diện miễn phí8.
Chưa nắm bắt được nhu cầu sử dụng dịch vụ dân số của vị thành niên, thanh niên,
người chưa kết hôn; chưa quản lý được tình trạng mang thai ngoài ý muốn, nhất
là ở vị thành niên, thanh niên. Việc quản lý chẩn đoán, lựa chọn giới tính thai
nhi rất khó khăn. Chi phí khám sức khoẻ tiền hôn nhân, sàng lọc trước sinh, sơ
sinh còn cao. Mạng lưới chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng chưa có cơ sở
chăm sóc tập trung, vấn đề chăm sóc sức khỏe sinh sản nam giới, phụ nữ mãn kinh
và tiền mãn kinh chưa được chú trọng.

7. Hệ thống mạng lưới
dân số trong những năm vừa qua biến đổi mạnh trên cơ sở thực hiện việc sáp nhập
Trung tâm Dân số – KHHGĐ vào Trung tâm Y tế huyện và sáp nhập các xã9nên có sự thay đổi cán bộ làm chuyên
trách dân số tuyến huyện, dẫn đến việc đề xuất, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền
tuyến huyện hạn chế. Cộng tác viên dân số thôn bản kiêm nhiệm nhiều việc và một
số cộng tác viên dân số giảm sự nhiệt tình trong công tác, ở một số cụm dân cư ở
khối phố không bố trí được cộng tác viên dân số. Những cán bộ làm công tác dân
số hầu hết là cán bộ mới, chưa được đào tạo nghiệp vụ dân số nên thiếu kinh
nghiệm, lúng túng trong việc triển khai nhiệm vụ.

Công tác kiểm tra, giám sát,
giám sát hỗ trợ đánh giá thực hiện tiến độ chương trình dân số chưa chủ động,
chưa nắm bắt và giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong triển khai
hoạt động tại tuyến huyện, xã, thôn bản.

III. NGUYÊN
NHÂN, BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Nguyên nhân của hạn chế bất
cập

– Tiềm năng sinh sản lớn, số
người trong độ tuổi 20 – 29 chiếm gần 20% dân số. Tâm lý, tập quán muốn có đông
con vẫn còn tồn tại trong Nhân dân; trình độ dân trí của một bộ phận người dân
còn thấp, phong tục, tập quán lạc hậu, chậm chuyển đổi (trọng nam hơn nữ, tảo
hôn, ỷ nại, bao cấp…).

– Đội ngũ cán bộ làm công tác
dân số đã sớm chủ quan với những thành tựu trong công tác dân số – KHHGDD đã đạt
được trong những giai đoạn trước, xuất hiện tư tưởng chủ quan về vấn đề giảm
sinh trong thời điểm hiện nay. Thiếu năng động trong công tác tham mưu nhằm đảm
bảo đủ nguồn phương tiện tránh thai, nhất là các phương tiện tránh thai lâm
sàng có tác dụng lâu dài chưa đủ đáp ứng với nhu cầu của người dân. Cán bộ làm
công tác truyền thông cơ sở còn nhiều biến động, còn hạn chế cả về kiến thức và
kỹ năng tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông dân số; nhiều cán bộ mới
thiếu kinh nghiệm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của truyền thông vận động.

– Một số cấp ủy, chính quyền
chưa nhận thức đúng và đầy đủ về tính chất lâu dài, khó khăn, phức tạp, tầm
quan trọng và ý nghĩa của công tác dân số – KHHGDD; công tác lãnh đạo, chỉ đạo
chưa quyết liệt, chưa hiệu quả.

– Chất lượng thông tin, số liệu
chuyên ngành dân số chưa đáp ứng được nhu cầu quản lý, báo cáo thống kê chưa phản
ánh được đầy đủ, chính xác số liệu về dân số và phát triển.

– Các mô hình về quy mô, cơ cấu
dân số, nâng cao chất lượng dân số mới chỉ được triển khai điểm tại một số địa
bàn từ nguồn kinh phí chương trình mục tiêu Y tế – Dân số và một số ít từ 3 mô
hình, đề án được UBND tỉnh phê duyệt (mất cân bằng giới tính khi sinh; chăm
sóc sức khỏe người cao tuổi; xã hội hóa phương tiện tránh thai/hàng hóa sức khỏe
sinh sản).

– Trang thiết bị truyền thông
đã hỏng hóc từ lâu, không có nguồn kinh phí để trang bị mới.

– Nguồn kinh phí đầu tư cho
công tác truyền thông, phục vụ kiểm tra, giám sát, đánh giá rất ít. Do đó, việc
tổ chức thực hiện công tác này rất khó phát huy được hiệu quả như mong đợi.

2. Bài học kinh nghiệm

– Yếu tố quyết định sự thành
công của công tác dân số là sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, sát sao của cấp
uỷ và chính quyền các cấp. Những người làm công tác dân số phải nhận thức rõ
tính chất lâu dài, gian nan trong việc ổn định mức sinh và tính phức tạp, bức
thiết trong giải quyết vấn đề dân số. Kiên quyết khắc phục tư tưởng chủ quan,
buông lỏng quản lý, tăng cường tính kiên định, chủ động, sáng tạo để làm tốt
công tác dân số.

– Cần có sự phối hợp chặt chẽ,
đồng bộ, giữa các cấp, các ban, ngành, đoàn thể và các tổ chức chính trị – xã hội,
tạo nên sức mạnh tổng hợp trong việc quán triệt thực hiện chính sách dân số đến
cơ sở và mọi tầng lớp Nhân dân.

– Đẩy mạnh đồng bộ các giải
pháp thực hiện các mục tiêu dân số, đặc biệt là ổn định tổ chức bộ máy, nâng
cao năng lực, hiệu quả quản lý của hệ thống chuyên trách dân số các cấp.

– Đầu tư kinh phí thoả đáng cho
công tác dân số, có chính sách phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh, của từng
huyện, thành phố.

– Tăng cường công tác hướng dẫn,
chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát; lồng ghép chương trình kiểm tra của cấp uỷ,
chính quyền với hoạt động giám sát của HĐND để tăng tính hiệu quả; định kỳ sơ kết,
tổng kết rút kinh nghiệm, biểu dương khen thưởng kịp thời, đồng thời xử lý
nghiêm những trường hợp vi phạm chính sách.

Phần thứ
hai

KẾ HOẠCH HÀNH ĐỘNG THỰC
HIỆN CHIẾN LƯỢC DÂN SỐ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2020 – 2025, TẦM NHÌN ĐẾN 2030 TỈNH LẠNG
SƠN

I. CƠ SỞ
PHÁP LÝ

Quyết định số 1679/QĐ-TTg ngày
22/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược dân số Việt Nam
đến năm 2030;

Kế hoạch số 51-KH/TU ngày
26/01/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Lạng Sơn thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW
ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương đảng khoá XII về công tác dân số
trong tình hình mới;

Kế hoạch số 94/KH-UBND ngày
25/5/2018 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày
25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương đảng khóa XII về công tác dân số trong
tình hình mới;

Văn bản số 7424/BYT-TCDS ngày
18/12/2019 của Bộ Y tế về việc triển khai thực hiện Chiến lược dân số Việt Nam
đến năm 2030.

II. MỤC
TIÊU, CHỈ TIÊU

1. Mục tiêu chung

Đưa nhanh mức sinh chung của
toàn tỉnh về mức sinh thay thế (2,1 con/phụ nữ) và duy trì mỗi cặp vợ chồng
sinh đủ 2 con vào năm 2030, giảm chênh lệch tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giữa
các huyện, thành phố; đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức 112 trẻ trai/100 trẻ
gái vào năm 2025 và dưới 109 trẻ trai/100 trẻ gái vào năm 2030; tận dụng hiệu
quả cơ cấu dân số vàng; thích ứng với già hoá dân số; nâng cao chất lượng dân số,
góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

2. Mục tiêu cụ thể

2.1. Đến năm 2025

a) Mục tiêu 1

Đưa nhanh mức sinh chung của
toàn tỉnh về mức sinh thay thế (2,1 con/phụ nữ), giảm chênh lệch mức sinh giữa
các vùng, đối tượng:

– Hàng năm giảm tổng tỷ suất
sinh trung bình 0,005 con/phụ nữ.

– Quy mô dân số 805.500 người
(tỉ lệ tăng dân số bình quân hàng năm 0,75%).

– 95% phụ nữ trong độ tuổi sinh
đẻ đều được tiếp cận thuận tiện với các biện pháp tránh thai hiện đại, phòng
tránh vô sinh và hỗ trợ sinh sản.

– Giảm 50% số vị thành niên và
thanh niên có thai ngoài ý muốn.

b) Mục tiêu 2

Bảo vệ và phát triển dân số các
dân tộc thiểu số, đặc biệt là những dân tộc thiểu số rất ít người có nguy cơ
suy giảm giống nòi:

– Cơ bản ngăn chặn tình trạng tảo
hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số.

– Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng
dân số của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh cao hơn giai đoạn 2011 –
2020.

c) Mục tiêu 3

Đưa tỉ số giới tính khi sinh về
mức 112 trẻ trai/100 trẻ gái, phấn đấu duy trì cơ cấu tuổi ở mức hợp lý:

– Tỉ số giới tính khi sinh dưới
112 trẻ trai/100 trẻ gái sinh ra sống.

– Tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt
khoảng 22,7%; tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt khoảng 11%; tỉ lệ phụ thuộc
chung đạt khoảng 49%.

d) Mục tiêu 4

Nâng cao chất lượng dân số:

– Tỉ lệ nam, nữ thanh niên được
tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn đạt 50%.

– Giảm 50% số cặp tảo hôn và
không có hôn nhân cận huyết thống.

– 40% phụ nữ mang thai được tầm
soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất.

– 60% trẻ sơ sinh được tầm soát
ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất.

– Tuổi thọ bình quân đạt trên
75 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm.

– Trên 95% người cao tuổi có thẻ
bảo hiểm y tế, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại
gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung.

– Chiều cao người 18 tuổi đối với
nam, nữ đạt ngang bằng với những tỉnh trung bình của cả nước. Đưa chỉ số phát
triển con người (HDI) của tỉnh Lạng Sơn nằm trong nhóm các tỉnh trung bình cả
nước.

đ) Mục tiêu 5

Thúc đẩy phân bố dân số hợp lý
và bảo đảm quốc phòng, an ninh:

– Thúc đẩy đô thị hóa, đưa tỉ lệ
dân số đô thị đạt trên 25%.

– Bố trí, sắp xếp dân cư hợp lý
ở vùng núi, vùng núi cao, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh.

– Bảo đảm người di cư được tiếp
cận đầy đủ và công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản.

e) Mục tiêu 6

Hoàn thành xây dựng và vận hành
cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đẩy mạnh lồng ghép các yếu tố dân số vào xây
dựng và thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội:

– 95% dân số của tỉnh được đăng
ký, quản lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư thống nhất trên quy mô toàn quốc.

– 100% ngành, lĩnh vực sử dụng
dữ liệu chuyên ngành dân số vào xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,
chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

f) Mục tiêu 7

Phát huy tối đa lợi thế cơ cấu
dân số vàng, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững:

– Tiếp tục thực hiện tốt, hướng
đến đạt mục tiêu cao hơn các chiến lược về giáo dục, đào tạo, lao động, việc
làm, xuất khẩu lao động, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài… hiện
có; tăng tối đa số lượng việc làm, nâng cao tỉ lệ lao động được đào tạo, cải
thiện chất lượng việc làm.

– Tiếp tục thực hiện tốt, hướng
đến đạt mục tiêu cao hơn các chiến lược, chương trình về chăm sóc sức khỏe đảm
bảo mọi người lao động đều được chăm sóc sức khỏe và có sức khỏe tốt.

g) Mục tiêu 8

Thích ứng với già hóa dân số, đẩy
mạnh chăm sóc sức khỏe người cao tuổi:

– 50% số xã, phường đạt tiêu
chí môi trường thân thiện với người cao tuổi.

– 100% người cao tuổi có thẻ bảo
hiểm y tế, được quản lý sức khỏe, khám, chữa bệnh, chăm sóc tại gia đình, cộng
đồng, cơ sở chăm sóc tập trung.

2.2. Đến năm 2030

– Duy trì vững chắc mức sinh
thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sinh đủ 2 con); quy mô dân
số đạt 880.000 người (tỉ lệ tăng dân số bình quân hàng năm 1,0%).

– 100% phụ nữ trong độ tuổi
sinh đẻ đều được tiếp cận thuận tiện với các biện pháp tránh thai hiện đại; giảm
70% số vị thành niên và thanh niên có thai ngoài ý muốn.

– Tỉ số giới tính khi sinh dưới
109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống; tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt khoảng 24%;
tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt khoảng 9%; tỉ lệ phụ thuộc chung đạt khoảng
33%, tỉ lệ người trong độ tuổi lao động là 67%.

– Tỉ lệ nam, nữ thanh niên được
tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn đạt 90%; giảm 60% số cặp tảo hôn và
không có hôn nhân cận huyết thống; 70% phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4
loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất; 90% trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh
bẩm sinh phổ biến nhất.

– Tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi,
trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; 100% người cao tuổi có
thẻ bảo hiểm y tế, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại
gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung.

– Chiều cao người 18 tuổi đối với
nam, nữ và chỉ số phát triển con người của tỉnh Lạng Sơn đạt tương đương so với
các tỉnh trong cùng khu vực.

– Tỉ lệ dân số đô thị đạt trên
25%. Bố trí, sắp xếp dân cư hợp lý ở vùng núi, vùng núi cao, vùng đặc biệt khó
khăn của tỉnh. Bảo đảm người di cư được tiếp cận đầy đủ và công bằng các dịch vụ
xã hội cơ bản.

– 100% dân số của tỉnh được
đăng ký, quản lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư thống nhất trên quy mô
toàn quốc; 100% ngành, lĩnh vực sử dụng dữ liệu chuyên ngành dân số vào xây dựng
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội
của địa phương.

III. NHIỆM
VỤ VÀ GIẢI PHÁP

1. Tăng
cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp

Tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị
quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương đảng khóa XII về
công tác dân số trong tình hình mới; thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ, giải
pháp tại Kế hoạch số 51-KH/TU ngày 26/01/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Kế
hoạch số 94/KH-UBND ngày 25/5/2018 của UBND tỉnh về việc thực hiện Nghị quyết số
21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương đảng khóa XII về công tác
dân số trong tình hình mới, bảo đảm thống nhất nhận thức, hành động của cả hệ
thống chính trị, tạo sự đồng thuận và ủng hộ của toàn xã hội về tiếp tục thực
hiện quyết liệt, có hiệu quả các biện pháp KHHGĐ, đưa nhanh mức sinh về mức
sinh thay thế, ổn định qui mô dân số, đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng
tự nhiên; tận dụng hiệu quả lợi thế cơ cấu dân số vàng; thích ứng với già hoá
dân số; nâng cao chất lượng dân số. Đưa công tác dân số là một nội dung trọng
tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền.

Ban hành các nghị quyết; xây dựng
kế hoạch dài hạn, trung hạn, hàng năm để cụ thể hoá các mục tiêu đã đề ra nhằm
thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030 phù
hợp từng giai đoạn và thực tiễn của địa phương. Thực hiện lồng ghép các yếu tố
dân số vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển
kinh tế – xã hội do sở, ngành, UBND các huyện, thành phố chủ trì xây dựng và thực
hiện.

Quan tâm đúng mức đến việc lãnh
đạo, chỉ đạo triển khai; đầu tư kinh phí, bố trí cán bộ đủ năng lực để thực hiện
thành công các mục tiêu, nhiệm vụ về công tác dân số các cấp, đặc biệt chú trọng
tại thôn, bản, khối phố.

Trực tiếp chỉ đạo công tác phối
hợp liên ngành; phân công nhiệm vụ, thực hiện chế độ phối hợp hiệu quả giữa các
sở, ban, ngành, tổ chức đoàn thể tham gia thực hiện công tác dân số trên địa
bàn. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và tổ chức đoàn thể các cấp tham
gia, giám sát thực hiện công tác dân số. Nâng cao chất lượng hoạt động của ban
chỉ đạo dân số, phát huy vai trò, trách nhiệm của thành viên ban chỉ đạo dân số
các cấp.

Đẩy mạnh phong trào thi đua thực
hiện các nhiệm vụ về công tác dân số và phát triển, đặc biệt là cuộc vận động
sinh ít con tại địa bàn có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao.

Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra,
đánh giá việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, phong trào thi đua về công tác
dân số. Lấy kết quả thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ về dân số là một tiêu chuẩn
quan trọng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu cấp uỷ,
chính quyền các cấp.

Đề cao tính tiên phong gương mẫu
của mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu trong việc thực hiện
chính sách dân số, xây dựng gia đình bình đẳng, tiến bộ, ấm no, hạnh phúc, tạo
sự lan toả rộng trong toàn xã hội.

2. Đổi mới
truyền thông, vận động về dân số

Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền
thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương đảng
khoá XII về công tác dân số trong tình hình mới tạo sự chuyển biến căn bản về
nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp Nhân dân về
nhiệm vụ, nội dung công tác dân số trong tình hình mới.

Triển khai đầy đủ, toàn diện
các nội dung như: đưa nhanh mức sinh của tỉnh về mức sinh thay thế, ổn định qui
mô dân số, đặc biệt giảm sinh con thứ 3 trở lên tại vùng có tỷ lệ sinh con thứ
3 trở lên cao; đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng
hiệu quả lợi thế cơ cấu dân số vàng; thích ứng với già hoá dân số; nâng cao chất
lượng dân số.

Tập trung đẩy mạnh, tăng cường
độ và nâng cao hiệu quả các hoạt động tuyên truyền giáo dục về dân số và phát
triển. Nội dung, phương thức truyền thông, vận động phải được xây dựng phù hợp
với tình hình dân số, điều kiện kinh tế – xã hội, đặc trưng văn hoá từng vùng,
từng đối tượng.

Tiếp tục huy động toàn bộ hệ thống
chính trị từ tỉnh đến cơ sở vào cuộc để tuyên truyền vận động thực hiện mục
tiêu giảm sinh, không sinh con thứ ba trở lên, đặc biệt quan tâm chỉ đạo tích cực
đối với vùng có mức sinh cao, vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn để đưa nhanh mức
sinh của toàn tỉnh về mức sinh thay thế, giảm nhanh sự chênh lệch về mức sinh
giữa các vùng và giữa khu vực thành thị, nông thôn và các đối tượng.

Nâng cao nhận thức, thực hành về
bình đẳng giới, đề cao giá trị của trẻ em gái, vai trò, vị thế của phụ nữ trong
gia đình và xã hội. Xây dựng các chuẩn mực, giá trị xã hội phù hợp nhằm thực hiện
hiệu quả bình đẳng giới, loại trừ dần nguyên nhân sâu xa của tình trạng mất cân
bằng giới tính khi sinh.

Đẩy mạnh truyền thông giáo dục
chuyển đổi nhận thức, tạo dự luận xã hội phê phán các hành vi lựa chọn giới
tính thai nhi, nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Giáo dục nâng
cao y đức, nghiêm cấm lạm dụng khoa học, công nghệ để lựa chọn giới tính thai
nhi. Tập trung nỗ lực, tạo chuyển biến rõ nét để đưa tỉ số giới tính khi sinh về
mức cân bằng tự nhiên.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
vận động, khơi dậy phong trào mọi người dân thường xuyên luyện tập thể dục, thể
thao, có lối sống lành mạnh, chế độ dinh dưỡng hợp lý góp phần nâng cao sức khoẻ,
tầm vóc, thể lực người Việt Nam.

Vận động thanh niên thực hiện
tư vấn và khám sức khoẻ trước khi kết hôn, không tảo hôn, không kết hôn cận huyết
thống; phụ nữ mang thai thực hiện tầm soát, chẩn đoán, điều trị 4 bệnh tật thường
gặp trước sinh; trẻ sơ sinh được thực hiện tầm soát, chẩn đoán, điều trị 5 bệnh
thường gặp bẩm sinh.

Đẩy mạnh truyền thông về cơ hội,
thách thức và giải pháp phát huy lợi thế của thời kỳ dân số vàng, thực hiện các
quy định của pháp luật về cư trú, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người
dân, gia đình và toàn xã hội trong việc phát huy vai trò, kinh nghiệm của người
cao tuổi, thực hiện chăm sóc người cao tuổi, xây dựng môi trường thân thiện với
người cao tuổi, thích ứng với già hoá dân số.

Thường xuyên cung cấp thông tin
về tình hình công tác dân số cho lãnh đạo cấp uỷ, chính quyền. Vận động, phát
huy vai trò của các chức sắc tôn giáo, già làng, trưởng bản, người uy tín trong
cộng đồng, người có ảnh hưởng đến công chúng tham gia tuyên truyền, giáo dục
người dân thực hiện chính sách dân số.

Đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt
động truyền thông trực tiếp thông qua đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của
các ngành, các cấp, nhất là đội ngũ nhân viên y tế thôn bản kiêm cộng tác viên
dân số. Đồng thời cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời cho đội ngũ hoạt động
không chuyên trách tại thôn, bản, tổ dân phố tham gia tuyên truyền về công tác
dân số. Lồng ghép nội dung dân số vào sinh hoạt cộng đồng, lễ hội văn hoá,
hương ước, quy ước và thiết chế văn hoá của cộng đồng; tiêu chuẩn thôn, bản, tổ
dân phố văn hoá, gia đình văn hoá.

Đẩy mạnh các hoạt động truyền
thông về dân số trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là hệ thống
thông tin ở cơ sở. Tăng số tin, bài, thời lượng; đa dạng hoá các hình thức thể
hiện các nội dung về công tác dân số. Lồng ghép các thông điệp về dân số trong
các tác phẩm, sản phẩm văn hóa, văn nghệ, giải trí. Tận dụng triệt để thế mạnh
của công nghệ truyền thông hiện đại, internet, mạng xã hội… trong truyền
thông giáo dục về dân số.

Đổi mới toàn diện nội dung,
chương trình, phương pháp giáo dục dân số, sức khoẻ sinh sản trong và ngoài nhà
trường. Giáo dục dân số, sức khoẻ sinh sản phải phù hợp với từng cấp học, lứa
tuổi, bảo đảm yêu cầu hình thành kiến thức và kỹ năng về dân số, sức khoẻ sinh
sản đúng đắn, có hệ thống ở thế hệ trẻ.

3. Hoàn
thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về dân số

Triển khai thực hiện các chính
sách, pháp luật của nhà nước về dân số; thực hiện rà soát điều chỉnh, bổ sung
các chính sách theo quy định của trung ương và phù hợp với điều kiện của tỉnh.

Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện
các đề án, kế hoạch theo hướng dẫn của trung ương thực hiện Nghị quyết số
21-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương đảng khoá XII về công tác
dân số trong tình hình mới.

Nghiên cứu, xây dựng trình HĐND
tỉnh ban hành Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 08/2008/NQ-HĐND ngày
21/7/2008 của HĐND tỉnh về một số chính sách dân số và KHHGĐ áp dụng trên địa
bàn tỉnh Lạng Sơn cho đúng các quy định của pháp luật. Rà soát, ban hành chính
sách đãi ngộ phù hợp đối với đội ngũ cộng tác viên dân số ở thôn, bản, tổ dân
phố.

Tích cực rà soát, nghiên cứu để
bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách về dân số – KHHGĐ, đặc biệt là các
chính sách tác động nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, nâng cao
chất lượng dân số, duy trì mức sinh hợp lý, chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với
người chưa thành niên và thanh niên, người cao tuổi; các chính sách hỗ trợ thỏa
đáng để thu hút, tạo điều kiện cho người dân sinh sống ổn định, lâu dài tại các
khu vực biên giới, vùng khó khăn, khu vực trọng yếu về quốc phòng, an ninh. Thực
hiện có hiệu quả chính sách bảo vệ và phát triển các dân tộc thiểu số, đặc biệt
là các dân tộc thiểu số ít người.

Nâng cao hiệu lực pháp lý trong
quản lý và tổ chức thực hiện các nội dung của công tác dân số. Kiện toàn hệ thống
thanh tra chuyên ngành dân số, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm
theo thẩm quyền phê duyệt.

4. Phát
triển mạng lưới và nâng cao chất lượng dịch vụ về dân số

Củng cố mạng lưới cung cấp dịch
vụ KHHGĐ theo hướng bảo đảm các cơ sở y tế tuyến huyện cung cấp được tất cả các
loại dịch vụ KHHGĐ, các cơ sở y tế tuyến xã cung cấp các dịch vụ KHHGĐ cơ bản.
Tiếp tục duy trì, nâng cao hiệu quả việc phân phối các dịch vụ phi lâm sàng qua
Trạm Y tế, mạng lưới nhân viên y tế thôn bản, cộng tác viên dân số và người hoạt
động không chuyên trách ở tổ dân phố.

Đổi mới phương thức cung cấp dịch
vụ kế hoạch hoá gia đình theo hướng mở rộng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của từng
nhóm đối tượng. Tiếp tục huy động các thành phần kinh tế tham gia xã hội hoá,
tiếp thị xã hội, cung cấp phương tiện hàng hóa sức khỏe sinh sản và dịch vụ tránh
thai.

Mở rộng khả năng tiếp cận, sử dụng
các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục thân thiện với thanh
niên. Tăng cường quản lý nhà nước đối với việc cung cấp các dịch vụ phá thai,
loại trừ phá thai không an toàn.

Tiếp cận chương trình ngăn ngừa,
sàng lọc, can thiệp, điều trị sớm các bệnh, tật là nguyên nhân dẫn đến vô sinh ở
nhóm dân số trẻ, chú trọng việc chăm sóc sức khỏe sinh sản nam giới và phụ nữ
tiền mãn kinh và mãn kinh.

Nâng cao hiệu quả việc cung cấp
dịch vụ tư vấn khám sức khoẻ trước khi kết hôn, giảm tảo hôn và không có hôn
nhân cận huyết thống. Mở rộng triển khai cung cấp dịch vụ phát hiện sớm nguy
cơ, phòng ngừa di truyền các bệnh nguy hiểm ở thai nhi và trẻ sơ sinh.

Mở rộng mạng lưới, phổ cập
chương trình cung cấp dịch vụ tầm soát, chẩn đoán, can thiệp, điều trị sớm bệnh
tật trước sinh, sơ sinh cho mọi phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh. Khuyến khích
các hoạt động xã hội hóa nhằm nâng cao chất lượng sàng lọc trước sinh, sàng lọc
sau sinh nhưng phải tuân thủ đúng quy định pháp luật; chú trọng công tác chăm
sóc, điều trị, tư vấn cho những trẻ em xác định bệnh để theo dõi sự phát triển
bình thường của trẻ.

Tiếp tục đẩy mạnh, thực hiện có
hiệu quả các chương trình thể dục thể thao, rèn luyện, nâng cao sức khoẻ, các
chương trình dinh dưỡng, sữa học đường nhằm nâng cao thể lực, tầm vóc người Việt
Nam.

Phát triển mạng lưới chăm sóc
người cao tuổi đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về số lượng và chất lượng theo các
cấp độ khác nhau. Phát triển rộng khắp các loại hình câu lạc bộ rèn luyện sức
khoẻ, văn hoá, giải trí của người cao tuổi ở cộng đồng theo hướng xã hội hoá,
có sự hỗ trợ, tạo điều kiện của nhà nước. Mở rộng việc cung cấp dịch vụ chăm
sóc người cao tuổi tại gia đình và cộng đồng thông qua mạng lưới tình nguyện
viên, cộng tác viên và nhân viên chăm sóc được đào tạo.

Khuyến khích thành lập đơn
nguyên Lão khoa tại các Bệnh viện tuyến tỉnh và Trung tâm Y tế tuyến huyện;
nâng cao năng lực cho các nhân viên y tế lão khoa tại các cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng cho người cao
tuổi.

Xây dựng, ban hành bộ tiêu chí
xã, phường, thị trấn thân thiện với người cao tuổi làm cơ sở cho việc định hướng,
giám sát đánh giá kết quả các hoạt động chăm sóc người cao tuổi ở cấp cơ sở.

Tăng cường kết nối, hợp tác với
các cơ sở cung cấp dịch vụ ngoài công lập; đổi mới phương thức cung cấp, đưa dịch
vụ tới tận người sử dụng; thúc đẩy cung cấp dịch vụ qua mạng.

5. Đẩy mạnh
các hoạt động nghiên cứu khoa học, hoàn thiện hệ thống thông tin, số liệu dân số

Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu
về dân số và phát triển, đưa nội dung này là một trong những nhiệm vụ nghiên cứu
khoa học – công nghệ cấp tỉnh, trong đó, ưu tiên các vấn đề mới, trọng tâm về
cơ cấu, chất lượng, phân bổ và lồng ghép các yếu tố dân số vào kế hoạch phát
triển kinh tế – xã hội, môi trường và đảm bảo quốc phòng, an ninh của từng
ngành, lĩnh vực.

Chú trọng nghiên cứu tác nghiệp,
nghiên cứu khảo sát thực trạng ở các địa bàn, can thiệp cung cấp bằng chứng phục
vụ hoạch định chính sách, biện pháp thực hiện các mục tiêu giảm sinh, đưa tỉ số
giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên, tận dụng hiệu quả lợi thế cơ cấu
dân số vàng, thích ứng với già hoá dân số, nâng cao chất lượng dân số.

Tăng cường ứng dụng thành tựu
khoa học, từng bước tiếp cận và ứng dựng chuyển giao công nghệ y – sinh học
tiên tiến về hỗ trợ sinh sản, tránh thai;

tầm soát, chẩn đoán và điều trị
sớm bệnh, tật trước sinh, sơ sinh; dự phòng, điều trị, phục hồi chức năng và
chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi.

Hoàn thiện hệ thống thông tin,
số liệu dân số đáp ứng yêu cầu cung cấp đầy đủ, kịp thời tình hình và dự báo
dân số phục vụ hoạch định chính sách, xây dựng thực hiện chiến lược, kế hoạch
phát triển kinh tế – xã hội và quản lý xã hội.

Tổ chức mạng lưới thu thập
thông tin, số liệu dân số theo hướng hiện đại, có sự phân công cụ thể và phối hợp
giữa các ngành, các cấp trong lĩnh vực này. Nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu
chuyên ngành dân số, đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội.

Kiện toàn mạng lưới thu thập, cập
nhật thông tin quản lý, cơ sở dữ liệu chuyên ngành dân số – KHHGĐ. Tăng cường
năng lực giám sát, đánh giá, phân tích và dự báo.

6. Bảo đảm
nguồn lực cho công tác dân số

Bảo đảm đủ nguồn lực đáp ứng
yêu cầu triển khai toàn diện công tác dân số, tập trung vào thực hiện các mục
tiêu như: Tiếp tục giảm sinh, ổn định qui mô dân số, đưa tỉ số giới tính về mức
cân bằng tự nhiên, tận dụng hiệu quả lợi thế cơ cấu dân số vàng, thích ứng với
già hoá dân số và nâng cao chất lượng dân số.

Tiếp tục tăng cường đầu tư từ
nguồn vốn ngân sách nhà nước phục vụ cho công tác dân số, đáp ứng được nhiệm vụ
đề ra. Lồng ghép các hoạt động dân số vào chương trình hoạt động thường xuyên của
các ngành, đoàn thể, các chương trình, dự án. Huy động nguồn lực từ cộng đồng,
các dự án, tổ chức để tăng nguồn lực và hiệu quả của chương trình nhằm thực hiện
các nhiệm vụ đạt kết quả cao hơn.

Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động
các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước cho công tác dân số. Có chính sách khuyến
khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, các cơ sở sản xuất, phân phối, cung cấp
các phương tiện, dịch vụ trong lĩnh vực dân số.

Xây dựng các chương trình, dự
án về dân số vào kế hoạch, chương trình đầu tư công phù hợp với từng địa bàn.
Quản lý chặt chẽ và nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước đầu tư cho
công tác dân số.

7. Kiện
toàn, ổn định tổ chức bộ máy và đào tạo

Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ
máy làm công tác dân số theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả; bảo đảm sự
lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền trên địa bàn, đồng thời thực hiện
quản lý chuyên môn thống nhất.

Rà soát, hoàn thiện, củng cố hệ
thống tổ chức bộ máy làm công tác dân số từ tỉnh đến xã; thường xuyên kiện toàn
ban chỉ đạo công tác dân số các cấp đáp ứng yêu cầu thực hiện toàn diện công
tác dân số trong tình hình mới.

Tiếp tục duy trì đội ngũ nhân
viên y tế thôn bản kiêm cộng tác viên dân số là những người được Nhân dân tín
nhiệm, làm việc trên tinh thần tình nguyện vì cộng đồng xây dựng, ban hành
chính sách đãi ngộ phù hợp về vật chất, tinh thần

cho đội ngũ này. Tại các địa
bàn không có y tế thôn bản, thì phân công cán bộ hoặc tổ chức đảm nhiệm công
tác dân số phù hợp với tình hình thực tế tại từng địa bàn.

Củng cố, kiện toàn tổ chức phối
hợp liên ngành về dân số và phát triển tại các cấp nhằm chỉ đạo, điều phối các
hoạt động của các ngành; cơ quan có chức năng quản lý các lĩnh vực liên quan tới
dân số và phát triển, bảo đảm không tăng biên chế và hình thành tổ chức mới.
Xây dựng quy chế hoạt động, phân công trách nhiệm bảo đảm tăng cường vai trò,
trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các thành viên của tổ chức phối hợp liên
ngành các cấp.

Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi
dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân số các cấp, các
ngành đáp ứng yêu cầu triển khai toàn diện công tác dân số. Chú trọng công tác
đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ làm công tác dân số cấp xã và cộng
tác viên dân số ở thôn, bản, khối phố, đảm bảo 100% thôn, bản, khối phố có cộng
tác viên dân số được đào tạo và cập nhật kiến thức thường xuyên về công tác dân
số và phát triển.

Thực hiện chuẩn hoá cán bộ làm
công tác dân số các cấp theo nguyên tắc vị trí việc làm và định hướng triển
khai toàn diện công tác dân số.

Thường xuyên cập nhật kiến thức
mới, tổ chức tập huấn lại, bảo đảm đội ngũ nhân viên y tế thôn bản, cộng tác
viên dân số và đội ngũ người hoạt động không chuyên trách tại tổ dân phố thực
hiện đầy đủ, có hiệu quả việc tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện sinh đủ
hai con, không lựa chọn giới tính thai nhi, không tảo hôn, kết hôn cận huyết thống,
phát huy vai trò và chăm sóc người cao tuổi, nâng cao chất lượng dân số, thu thập
thông tin và tham gia cung cấp một số dịch vụ dân số tới tận hộ gia đình.

Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm
công tác dân số tại các ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội về dân số và phát triển,
đặc biệt là kiến thức, kỹ năng lồng ghép các nội dung này vào hoạt động của
ngành, đơn vị.

Đưa nội dung dân số và phát triển
vào chương trình đào tạo, tập huấn cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có liên
quan.

Đẩy mạnh cải cách hành chính
theo hướng hiện đại, đơn giản hoá và hiệu quả. Tăng cường ứng dụng công nghệ
thông tin trong quản lý, cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực dân số, tạo thuận
lợi cho người dân.

8. Xã hội
hóa, phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế

Khuyến khích các cơ sở ngoài
công lập tham gia cung cấp dịch vụ dân số – KHHGĐ, sức khỏe sinh sản. Huy động
sự tham gia của cộng đồng dân cư, cá nhân và các tổ chức phi chính phủ, tổ chức
chính trị, xã hội, nghề nghiệp vào công tác dân số – KHHGĐ, sức khỏe sinh sản.
Quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của các cơ sở cung cấp dịch vụ.

Tăng cường phối hợp các ngành,
đoàn thể trên cơ sở quy chế phối hợp liên ngành về công tác dân số.

Hợp tác quốc tế trong việc
nghiên cứu, thí điểm mô hình, xây dựng và thực hiện các chính sách, chương
trình, đề án, dự án theo các chương trình của trung ương về dân số và phát triển.
Tranh thủ các nguồn lực từ các chương trình dự án của các tổ chức quốc tế.

IV. KINH PHÍ

Bố trí kinh phí từ dự toán chi
thường xuyên của các ngành, địa phương; kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản hàng
năm của tỉnh; ngân sách từ Chương trình mục tiêu Y tế – Dân số; các chương
trình, đề án liên quan khác theo phân cấp của pháp luật về ngân sách nhà nước;
quỹ phát triển sự nghiệp của các đơn vị; nguồn xã hội hóa, đóng góp của các tổ
chức, cá nhân và nguồn kinh phí hợp pháp khác.

V. TỔ CHỨC
THỰC HIỆN

1. Sở Y tế

Chủ trì, phối hợp với các sở,
ban, ngành liên quan và UBND các huyện, thành phố tổ chức triển khai Kế hoạch
hành động thực hiện Chiến lược dân số giai đoạn 2020 – 2025, tầm nhìn đến năm
2030 trên phạm vi toàn tỉnh; điều phối các hoạt động của công tác dân số và
phát triển, bảo đảm gắn kết chặt chẽ với các kế hoạch, chương trình, đề án có
liên quan cho các cơ quan, đơn vị; hướng dẫn thanh tra, kiểm tra, giám sát và tổng
hợp tình hình thực hiện. Định kỳ báo cáo UBND tỉnh theo quy định.

Phối hợp với các cơ quan liên
quan tham mưu cho UBND tỉnh sửa đổi và bổ sung Quyết định số 21/2008/QĐ-UBND
ngày 29/8/2008 của UBND tỉnh quy định một số chính sách về dân số – KHHGĐ áp dụng
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay; nghiên cứu,
đề xuất, tham mưu UBND tỉnh trình cấp có thẩm quyền ban hành Nghị quyết về công
tác dân số, chính sách về công tác dân số giai đoạn 2020 – 2015 trên địa bàn tỉnh,
nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh, nâng cao chất lượng dân số,
duy trì mức sinh hợp lý, chăm sóc sức khỏe sinh sản đối với người chưa thành
niên và thanh niên, người cao tuổi…

Tiếp tục tổ chức thực hiện các
kế hoạch, mô hình, đề án đã được UBND tỉnh phê duyệt. Đồng thời, tham mưu UBND
tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai các chương trình, đề án về dân số và phát triển
đáp ứng với tình hình mới trên cơ sở hướng dẫn của Bộ Y tế.

Trên cơ sở các văn bản nhà nước
quy định, phối hợp các cơ quan liên quan xây dựng dự toán kinh phí thực hiện Kế
hoạch hành động thực hiện Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2020 – 2025 và tầm
nhìn đến năm 2030 của tỉnh Lạng Sơn gửi cơ quan tài chính thẩm định. Hàng năm,
ký kết hợp đồng trách nhiệm với các cơ quan có liên quan phối hợp triển khai thực
hiện từng nội dung hoạt động cụ thể của Kế hoạch hành động thực hiện chiến lược
dân số giai đoạn 2020 – 2025 trên địa bàn tỉnh.

Kiện toàn tổ chức, bộ máy làm
công tác dân số từ tỉnh đến cơ sở; đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, quản
lý cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân số các cấp và những người cung cấp dịch
vụ; lồng ghép công tác dân số vào các chương trình, kế hoạch phát triển ngành,
lĩnh vực.

Củng cố mạng lưới cung cấp dịch
vụ Dân số – KHHGĐ theo hướng bảo đảm các cơ sở y tế tuyến huyện cung cấp được tất
cả các loại dịch vụ KHHGĐ, các cơ sở y tế tuyến xã cung cấp các dịch vụ KHHGĐ
cơ bản. Mở rộng khả năng tiếp cận, sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản,
sức khỏe tình dục thân thiện với thanh niên; cung cấp dịch vụ tư vấn, khám sức
khỏe trước khi kết hôn, dịch vụ tầm soát, chẩn đoán, can thiệp, điều trị sớm bệnh
tật trước sinh, sơ sinh cho mọi phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh, các mô hình
chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Củng cố, nâng cấp các cơ sở cung cấp dịch vụ
sàng lọc hiện có, phát triển thêm các cơ sở cung cấp dịch vụ theo phân cấp kỹ
thuật.

Chỉ đạo các đơn vị trực thuộc
tăng cường ứng dụng thành tựu khoa học, từng bước tiếp cận và ứng dựng chuyển
giao công nghệ y, sinh học tiên tiến về hỗ trợ sinh sản, tránh thai; tầm soát,
chẩn đoán và điều trị sớm bệnh, tật trước sinh, sơ sinh; dự phòng, điều trị, phục
hồi chức năng và chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi.

2. Sở Tư pháp

Phối hợp với Sở Y tế và các cơ
quan liên quan tham mưu UBND tỉnh xây dựng các chính sách về dân số và phát triển
để triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh đáp ứng với công tác dân số trong
tình hình mới; tham mưu sửa đổi, bổ sung Quyết định số 21/2008/QĐ-UBND về quy định
một số chính sách dân số – KHHGĐ áp dụng trên địa bàn tỉnh phù hợp với tình
hình mới.

Tổ chức triển khai thực hiện,
tuyên truyền các chính sách, pháp luật về dân số và phát triển.

3. Sở Lao động – Thương binh
và Xã hội

Chủ trì, phối hợp với các cơ
quan liên quan và UBND các huyện, thành phố thực hiện đào tạo nghề và tạo việc
làm nhằm sử dụng tối đa lực lượng lao động, phát huy lợi thế của giai đoạn cơ cấu
dân số vàng; triển khai thực hiện các nội dung giáo dục về dân số và phát triển
trong các cơ sở dạy nghề; lồng ghép nội dung dân số vào các chương trình có
liên quan do ngành chủ trì.

Phối hợp với các cơ quan liên
quan thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, đảm bảo phúc lợi và thực hiện tốt
các chính sách cho người cao tuổi, nâng cao vị thế của phụ nữ và trẻ em gái,
bình đẳng giới, bảo trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo.

4. Sở Thông tin và Truyền
thông

Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế
và các cơ quan liên quan chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan báo chí, truyền thông của
tỉnh đẩy mạnh các hoạt động truyền thông về dân số trên các phương tiện thông
tin đại chúng, đặc biệt là hệ thống thông tin ở cơ sở. Tận dụng triệt để thế mạnh
của công nghệ truyền thông hiện đại, internet, mạng xã hội… trong truyền
thông giáo dục về dân số.

Tăng cường thanh tra, kiểm tra
hoạt động xuất bản; kiểm soát chặt chẽ nội dung bản tin và tài liệu có liên
quan về dân số.

5. Sở Văn hoá, Thể thao và
Du lịch

Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế,
Sở Giáo dục và đào tạo và các cơ quan liên quan chỉ đạo, tổ chức thực hiện các
chương trình, đề án nâng cao tầm vóc và thể lực của người dân; triển khai các
hoạt động phát triển gia đình bền vững, phòng chống bạo lực gia đình; lồng ghép
các nội dung dân số vào sinh hoạt tại nhà văn hóa, làng, tổ dân phố và nơi sinh
hoạt cộng đồng hướng tới mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ,
hạnh phúc và bền vững.

6. Sở Giáo dục và đào tạo

Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế và
các cơ quan liên quan chủ động đưa nội dung giáo dục dân số, sức khoẻ tình dục,
sức khoẻ vị thành niên, phòng chống tảo hôn, giới và bình đẳng giới vào chương
trình giảng dạy chính khóa, ngoại khóa phù hợp với các cấp học.

Phối hợp với Sở Y tế và các cơ
quan liên quan thực hiện có hiệu quả chương trình sữa học đường, các chương
trình thể dục thể thao, rèn luyện, nâng cao sức khoẻ, chương trình dinh dưỡng,
đảm bảo an toàn thực phẩm trong các cơ sở giáo dục, nhằm nâng cao thể lực, tầm
vóc người Việt Nam.

7. Sở Khoa học và Công nghệ

Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế
và các cơ quan liên quan triển khai thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ
về dân số và phát triển, nâng cao chất lượng dân số. Ưu tiên các nghiên cứu tác
nghiệp, nghiên cứu khảo sát thực trạng ở các địa bàn, can thiệp cung cấp bằng
chứng phục vụ hoạch định chính sách, biện pháp thực hiện các mục tiêu giảm
sinh, đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên, tận dụng hiệu quả
lợi thế cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hoá dân số, nâng cao chất lượng
dân số.

8. Sở Nội vụ

Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế
và UBND các huyện, thành phố kiện toàn tổ chức mạng lưới làm công tác dân số từ
tỉnh đến các cấp huyện, xã và thôn bản, đáp ứng yêu cầu triển khai toàn diện
công tác dân số trong tình hình mới.

Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế
tham mưu UBND tỉnh ban hành chính sách đãi ngộ phù hợp đối với đội ngũ cộng tác
viên dân số ở thôn, bản; các chính sách về dân số đáp ứng trong tình hình mới;
hướng dẫn bổ sung các chỉ tiêu thực hiện chính sách dân số thành một tiêu chí để
đánh giá thi đua, xét danh hiệu và hình thức khen thưởng đối với các tập thể và
cá nhân thực hiện tốt chính sách dân số.

9. Cục Thống kê tỉnh

Cung cấp thông tin về dân số từ
kết quả điều tra của ngành Thống kê phục vụ việc chỉ đạo, quản lý và xây dựng
các chính sách phát triển kinh tế – xã hội.

Phối hợp với Sở Y tế và các cơ
quan liên quan xây dựng báo cáo tổng quan hàng năm về dân số nhằm phản ánh hiện
trạng, phân tích động thái, phát hiện những vấn đề dân số mới nảy sinh.

10. Ban Dân tộc tỉnh

Chủ trì, phối hợp vơi Sơ Y tế
và các cơ quan liên quan triển khai các chương trình, đề án về giam thiểu tình
trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số; hỗ trợ
phát triển kinh tế – xã hôi dân tộc Sán Chỉ, xã Nhượng Bạn, huyện Lộc Bình, tỉnh
Lạng Sơn theo đề án được duyệt.

11. Sở Kế hoạch và đầu tư

Chủ trì, phối hợp với Sở Tài
chính tổng hợp kế hoạch đầu tư phát triển. Phối hợp với Sở Y tế và các cơ quan
liên quan vận động vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho chương trình, đề
án, dự án liên quan đến lĩnh vực dân số. Chủ trì thực hiện mục tiêu thúc đẩy
phân bố dân số hợp lý.

12. Sở Tài chính

Trên cơ sở dự toán do các cơ
quan chủ trì xây dựng, Sở Tài chính thẩm định, căn cứ khả năng ngân sách nhà nước
hàng năm, trình cấp có thẩm quyền bố trí kinh phí bảo đảm thực hiện các chính
sách, chương trình, đề án về lĩnh vực dân số.

13. Đài Phát thanh và Truyền
hình tỉnh

Tăng cường thời lượng phát
sóng, nâng cao chất lượng tuyên truyền về dân số và phát triển trong các chương
trình, chuyên mục.

14. Sở Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn

Chủ trì, phối hợp với Sở Y tế
và các cơ quan liên quan tổ chức triển khai lồng ghép vấn đề dân số và phát triển
vào các chương trình phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, khuyến
nông, khuyến lâm.

15. Các sở, ban, ngành khác

Phối hợp với Sở Y tế và sở,
ngành liên quan tổ chức triển khai Kế hoạch hành động này trong phạm vi chức
năng, nhiệm vụ được giao.

16. UBND các huyện, thành phố

– Căn cứ vào tình hình thực tế
của địa bàn và nội dung tại Kế hoạch này xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện
chiến lược dân số phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trên địa
bàn.

– Xây dựng và tổ chức thực hiện
các chương trình, đề án, dự án về dân số và phát triển phù hợp với tình hình thực
tế của địa bàn trên cơ sở hướng dẫn của Sở Y tế và các cơ quan liên quan. Chủ động,
tích cực huy động nguồn lực để thực hiện các kế hoạch, chương trình, đề án tại
địa bàn.

– Đưa dân số thành một chỉ tiêu
trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn; lồng ghép các mục tiêu
dân số và phát triển vào nội dung chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương
trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội do địa bàn quản lý.

– Tăng cường công tác lãnh đạo,
chỉ đạo triển khai; nâng cao chất lượng hoạt động của ban chỉ đạo dân số, phát
huy vai trò, trách nhiệm của thành viên ban chỉ đạo dân số các cấp trong việc
thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, phong trào thi đua về công tác dân số tại địa
bàn.

– Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả
các hoạt động tuyên truyền giáo dục về dân số và phát triển, tạo sự chuyển biến
căn bản về nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp
Nhân dân về nhiệm vụ, nội dung công tác dân số trong tình hình mới. Phát động
các phong trào thi đua thực hiện các nhiệm vụ về công tác dân số và phát triển,
đặc biệt là cuộc vận động sinh ít con tại địa bàn có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở
lên cao.

– Tăng cường kiểm tra, giám
sát, đánh giá việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, phong trào thi đua về công
tác dân số trên địa bàn quản lý. Chịu trách nhiệm trước UBND tỉnh về kết quả thực
hiện công tác dân số trên địa bàn.

17. Đề nghị Uỷ ban Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh,
đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Ban đại diện Hội
Người cao tuổi tỉnh và các tổ chức đoàn thể khác trong phạm vi chức năng, nhiệm
vụ của mình, tham gia tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch hành động này; đẩy
mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong tổ chức mình; phát động các phong
trào thi đua thực hiện các nhiệm vụ về công tác dân số và phát triển tạo sự lan
toả rộng trong toàn xã hội; tham gia xây dựng các chính sách, chương trình, đề
án và giám sát việc thực hiện các hoạt động dân số.

UBND tỉnh yêu cầu thủ trưởng
các ban, sở, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố nghiêm túc triển khai,
thực hiện./.

 


Nơi nhận:
– Văn phòng Chính phủ;
– Bộ Y tế;
– Thường trực Tỉnh uỷ;
– Lãnh đạo HĐND tỉnh;
– Chủ tịch, các Phó Chủ tịch UBND tỉnh;
– Các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh;
– UBND các huyện, thành phố;
– C, PCVP UBND tỉnh, các phòng CM, đơn vị trực thuộc;
– Lưu: VT, KG-VX (NTB).

KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH


Dương Xuân Huyên

 



1 Theo kết quả
tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01/4/2019 của Cục Thống kê.

2 Nguồn số liệu
điều tra 01/4 hàng năm của Cục Thống kê.

3 Tỉ lệ suy
dinh dưỡng thể nhẹ cân năm 2011 là 19,9%, năm 2018 còn 17,7 %; suy dinh dưỡng
thể thấp còi năm 2011 là 29,8%, năm 2018 còn 25,6%.

4 Nguồn số liệu
thống kê chuyên ngành của Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình.

5 Nguồn số liệu
của Cục Thống kê.

6 Tỷ lệ sinh
con thứ 3 trở lên tăng nhanh từ 6,4% năm 2011 lên 9,8% năm 2019.

7 Tỷ lệ dân số
thành thị của tỉnh Lạng Sơn sau năm 2011 là 141.279 (chiếm 19,16%), năm 2018 là
159.087 người, tăng 18.808 người (chiếm 20,19%) thấp hơn mức trung bình toàn quốc
(35,74%).

8 Giai đoạn
2017 – 2020, cơ bản không có nguồn phương tiện tránh thai và dịch vụ KHHGĐ miễn
phí được hỗ trợ từ trung ương, dịch vụ KHHGĐ miễn phí chỉ được cung cấp cho các
đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách, trong khi đó tỉnh chưa bố
trí ngân sách mua bao cao su miễn phí, phụ cấp thủ thuật và mua thuốc thiết yếu
vật tư tiêu hao phục vụ dịch vụ tránh thai lâm sàng và công tác đào tạo, đào tạo
lại kỹ thuật.

9 Tại tuyến huyện
thực hiện sáp nhập theo Quyết định số 1731/QĐ-UBND ngày 06/9/2018 của UBND tỉnh.
Tại tuyến xã, thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Lạng
Sơn theo Kế hoạch số 179/KH-UBND ngày 13/12/2019 về triển khai Nghị quyết sô
818/NQ-UBTVQH14 ngày 21/11/2029.

Kế hoạch 41/KH-UBND năm 2020 về thực hiện Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2020-2025, tầm nhìn đến năm 2030 tỉnh Lạng Sơn

Tải văn bản file Word, PDF về máy

Chờ 30s để file Word hoặc PDF tự động tải về máy tính

Nếu tập tin bị lỗi, bạn đọc vui lòng liên hệ để được hỗ trợ download file