Địa LýLớp 12

Tại sao đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ mở rộng, thấp và bằng

Câu hỏi: Tại sao đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ mở rộng, thấp và bằng

A.Hệ thống núi không ăn sát ra biển

B. Nhiều hệ thống sông ngắn dốc.

Bạn đang xem: Tại sao đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ mở rộng, thấp và bằng

C. Thềm lục địa hẹp và sâu.

D. Nhiều vũng vịnh và đầm phá.

Trả lời:

Đáp án đúng: D. Nhiều vũng vịnh và đầm phá.

Đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ mở rộng, thấp và bằng là do có nhiều vũng vịnh và đầm phá.

Cùng THPT Ninh Châu tìm hiểu về sự phân hóa đa dạng của thiên nhiên ở Việt Nam nhé!

1. Thiên nhiên phân hóa theo Bắc – Nam

a. Phần lãnh thổ phía Bắc (Từ dãy núi Bạch Mã trở ra)

– Có kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với mùa đông lạnh.

– Nhiệt độ trung bình năm 22-240C.

– Phân thành 2 mùa là mùa đông và mùa hạ.

– Cảnh quan phổ biến là đới rừng gió mùa nhiệt đới.

– Thành phần sinh vật có các loại nhiệt đới chiếm ưu thế.

b. Phần lãnh thổ phía Nam (từ dãy Bạch Mã vào)

– Khí hậu mang tính chất cận xích đạo gió mùa nóng quanh năm.

– Nhiệt độ trung bình năm trên 250C.

– Phân thành 2 mùa là mưa và khô.

– Cảnh quan phổ biến đới rừng gió mùa cận xích đạo.

– Thành phần sinh vật mang đặc trưng xích đạo và nhiệt đới với nhiều loài.

2. Thiên nhiên phân hóa theo Đông – Tây

– Từ Đông sang Tây thiên nhiên nước ta có sự phân hóa thành 3 dải:

   + Vùng biển và thềm lục địa

Vùng biển lớn gấp 3 lần diện tích đất liền. Độ nông – sâu, rộng-hẹp của thềm lục địa có quan hệ chặt chẽ với vùng đồng bằng, vùng đồi núi kế bên.

Thiên nhiên vùng biển nước ta đa dạng và giàu có.

   + Vùng đồng bằng ven biển

Hình thành đồng bằng Bắc bộ và đồng bằng Nam bộ, mở rộng các bãi triều thấp phẳng, thềm lục địa rộng, phong cảnh thiên nhiên trù phú, xanh tươi.

Dải đồng bằng ven biển Trung bộ, đồi núi lan ra sát biển, chia cắt thành những đồng bằng nhỏ, đường bờ biển khúc khuỷu với thềm lục địa hẹp. Các dạng địa hình bồi tụ, mài mòn xen kẽ nhau, các cồn cát, đầm phá khá phổ biến.

   + Vùng đồi núi.

Sự phân hóa thiên nhiên ở miền đồi núi rất phức tạp, chủ yếu là do tác động của gió mùa với hướng của các dãy

núi.

Khi vùng núi Đông Bắc có mùa đông lạnh đến sớm thì ở vùng núi thấp phía nam Tây Bắc mùa đông bớt lạnh nhưng khô hạn, mùa hạ đến sớm. Khí hậu Tây Bắc lạnh chủ yếu do địa hình núi cao.

Trong khi sườn Đông Trường Sơn có mưa vào thu đông, thì vùng núi Tây Nguyên lại là mùa khô, nhiều nơi khô hạn gay gắt. Tây Nguyên vào mùa mưa thì bên sườn Đông Trường Sơn nhiều nơi lại chịu tác động của gió Tây khô nóng.

– Nguyên nhân:

   + Do địa hình nước ta phần lớn là đồi núi, có một số dãy núi cao chia cắt lãnh thổ thành các vùng.

   + Do sự tác động của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam.

3. Thiên nhiên phân hóa theo độ cao

a. Đai nhiệt đới gió mùa

– Ở miền Bắc, đai nhiệt đới gió mùa có độ cao trung bình dưới 600-700m, ở miền Nam lên đến độ cao 900-1000m.

– Khí hậu nhiệt đới biểu hiện rõ rệt, mùa hạ nóng (nhiệt độ trung bình tháng trên 25oC). Độ ẩm thay đổi tùy nơi: từ khô đến ẩm ướt.

– Đất đai trong bao gồm:

+ Đất đồng bằng chiếm gần 24% diện tích đất tự nhiên của cả nước, với các nhóm: đất phù sa, đất phèn, đất mặn, đất cát….Trong đó có diện tích lớn nhất và tốt nhất là đất phù sa.

+ Đất vùng đồi núi thấp chiếm hơn 60% diện tích đất tự nhiên cả nước, chủ yếu là nhóm đất feralit. Trong đó tốt nhất là đất feralit nâu đỏ phát triển trên đá mẹ badan và đá vôi.

– Sinh vật gồm các hệ sinh thái nhiệt đới:

+ Hệ sinh thái rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh hình thành ở những vùng núi thấp mưa nhiều, khí hậu ẩm ướt, mùa khô không rõ. Rừng có cấu trúc nhiều tầng với 3 tầng cây gỗ, có cây cao tới 30-40m,phần lớn là các loài cây nhiệt đới xanh quanh năm. Giới động vật nhiệt đới trong rừng đa dạng và phong phú.

+ Các hệ sinh thái rừng nhiệt đới gió mùa: rừng thường xanh, rừng nửa rụng lá và rừng thưa nhiệt đới khô. Trên các loại thổ nhưỡng đặc biệt có: các hệ sinh thái rừng thường xanh trên đá vôi; rừng ngập mặn trên đất mặn ven biển; rừng tram trên đất phèn; hệ sinh thái xa van, cây bụi gai nhiệt đới khô trên đất cát, đất thoái hóa vùng khô hạn.

b. Đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi

– Ở miền Bắc, đai cận nhiệt đới gió mùa trên núi có độ cao từ 600-700m lên đến 2600m, ở miền Nam từ 900-1000m lên đến 2600m.

– Khí hậu mát mẻ, không có tháng nào nhiệt độ trên 25oC, mưa nhiều hơn, độ ẩm tăng.

+ Ở độ cao từ 600-700m đến 1600-1700m, khí hậu mát mẻ và độ ẩm tăng, tạo điều kiện hình thành các hệ sinh thái rừng cận nhiệt đới lá rộng và lá kim phát triển trên đất feralit có mùn. Trong rừng xuất hiện các loài chim, thú cận nhiệt đới phương Bắc. Các loài thú có long dày như gấu, sóc, cầy , cáo…

+ Ở độ cao trên 1600-1700m hình thành đất mùn. Rừng phát triển kém, đơn giản về thành phần loài; rêu, địa y phủ kín thân, cành cây. Trong rừng, đã xuất hiện các loài cây ôn đới và các loài chim di cư thuộc khu vực Himalaya.

c. Đai ôn đới gió mùa trên núi

– Đai ôn đới gió mùa trên núi có độ cao từ 2600m trở lên (chỉ có ở Hoàng Liên Sơn).

– Khí hậu có tính chất khí hậu ôn đới, quanh năm nhiệt đới dưới 15oC, mùa đông xuống dưới 5oC; có các loài thực vật ôn đới như đỗ quyên, lãnh quyên, thiết sam. Đất ở đây chủ yếu là đất mùn thô.

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 12, Địa Lý 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button