Lớp 10Ngữ Văn

Thân bài Trao duyên – Văn mẫu 10 hay nhất

Tổng hợp các dạng Thân bài Trao duyên ngắn gọn, hay nhất. Hướng dẫn Cách viết thân bài cho các đề bài khác nhau trong đoạn trích Trao duyên.

Thân bài Trao duyên – Bài mẫu 1

        Truyện Kiều là một tác phẩm được coi như kiệt tác văn chương của nhân loại, được viết dưới dạng truyện kể bằng thơ, lấy cốt truyện của Thanh Tâm Tài Nhân người Trung Quốc. Tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân không hề được biết đến cho tới khi Nguyễn Du khai thác cốt truyện bình thường ấy thành tiếng kêu ai oán đến xé lòng, một bản sầu ca não nề của người con gái hồng nhan bạc phận. Đoạn trích “Trao duyên” từ câu 723 đến câu 756 trong phần “Gia biến và lưu lạc”, tái hiện lại cuộc trò chuyện của chị em Thúy Vân Thúy Kiều. Gia đình gặp hoạn nạn, Thúy Kiều đành bán mình chuộc cha, trong tình cảnh đó, biết mình không thể giữ trọn lời thề thủy chung với Kim Trọng, nàng Kiều đành phải trao lại tấm chân tình cho Thúy Vân, nhờ em làm tròn bổn phận, giữ trọn lời hứa của mình với người yêu.

        Mở đầu câu chuyện bằng lời Thúy Kiều nhờ cậy của mình với em:

Bạn đang xem: Thân bài Trao duyên – Văn mẫu 10 hay nhất

Cậy em em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa

        Ngay từ đầu, Nguyễn Du đã để cho Thúy Kiều ở vị trí phía dưới, trái ngược với cách xưng hô “chị, em”. Từ “cậy” đặt ở đầu câu gợi tả tình thế tiến thoái lưỡng nan, chẳng còn cách nào khác, lại thật khó khăn để có thể nhờ vả. Vốn dĩ, Thúy Kiều xét theo vai vế là chị của Thúy Vân, sẽ không cần “thưa” hay “lạy”, nhưng trong hoàn cảnh ấy, nàng chấp nhận đặt mình vào vị trí của người đi nhờ vả, van xin, chỉ với mục đích giữ trọn lời hứa của mình với chàng Kim Trọng. Từ “em” được nhắc lại hai lần, đi kèm các động từ mạnh “lạy”, “thưa” “cậy” mở ra một nỗi lòng chua xót, báo hiệu tương lai mịt mù, tăm tối, phải nhờ vả, dựa dẫm, mưu cầu lòng thương của người khác. Thúy Vân trở thành bề trên, “ngồi lên” để chị lạy, thưa đã một lần nữa nhấn mạnh kiếp người trôi nổi, bấp bênh, lỡ làng duyên phận của nàng Kiều. Kiều tha thiết van lơi em, đồng thời đặt lên vai em sức nặng của sự tin tưởng, trông cậy. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo đó, tình chị em được mang ra để bấu víu, Vân trở thành niềm hi vọng cuối cùng của Kiều khi nàng buộc phải rời xa gia đình, thất hẹn với người yêu.

        Thúy Kiều bắt đầu bày tỏ nỗi lòng mình với em gái bằng những lời chua xót, đau đớn:

Giữa đường đứtt gánh tương tư

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em

Kể từ khi gặp chàng Kim

Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề

Sự đâu sóng gió bất kì

Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

        Đến đây, người đọc bỗng hiểu ra cái nhờ cậy ban đầu của Thúy Kiều thực ra là một lời phó thác, buộc Thúy Vân phải chấp nhận. Với thân phận là chị gái, chị cả trong nhà, Kiều cảm thấy mình phải có trách nhiệm giúp đỡ gia đình qua cơn hoạn nạn. Nàng chấp nhận bán mình chuộc cha, vì chữ hiếu quên thân, chấp nhận lỡ duyên với người thương chứ không thể phụ lòng cha mẹ. Người con gái “đứt gánh tương tư” ấy chẳng nỡ làm Kim Trọng đau lòng, đứng trước chữ tình và chữ hiếu, nàng chỉ còn cách mong em gái Thúy Vân có thể giúp mình tiếp tục mối duyên đứt quãng. Hai tiếng “mặc em” giống như một sự phó thác trách nhiệm bằng tấm lòng tha thiết, âu sầu. Kiều thủ thỉ tâm sự với Vân về mối tình nồng thắm của minh với chàng Kim:

Kể từ khi gặp chàng Kim

Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề

Sự đâu sóng gió bất kì

Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

        Câu thơ thể hiện sự đau khổ của Thúy Kiều khi nhớ lại những kỉ niệm mùi mẫn còn dang dở giữa mình và Kim Trọng. Đối với nàng, mối tình với Kim Trọng là những kỉ niệm lứa đôi đẹp nhất, nhưng đối với Thúy Vân, đó là trách nhiệm, là nghĩa vụ. Vì thế, Kiều không muốn em phải bận lòng, băn khoăn, nàng chọn cách tâm tình với em từ những kỉ niệm của mình để em gái cảm thấy gần gũi, cảm thông. Từ buổi gặp gỡ đến hôm thề nguyện đính ước. hình ảnh “quạt ước”, “chén thề”, nàng muốn khẳng định tình cảm giữa hai người là tình cảm thật lòng, sâu sắc. Trao duyên cho em mà lòng đau như cắt, vì bản thân nàng đâu hề muốn phải sinh ra nông nỗi ấy. Cùng với sự tiếc nuối, Kiều chỉ biết trải lòng về những khó khăn bất chợt ập đến gia đình, buộc nàng vào tình thế bất đắc dĩ. “Hiểu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai”, một câu nói vừa tự nhủ lòng mình, vừa là cái cớ của Kiều khi trao duyên cho Thúy Vân. Bản thân Kiều không hề muốn hai chị em phải đối mặt với nhau trong tình thế khó xử, nhưng chị đã vì cha mẹ bán mình, thì em cũng nên vì chị mà giúp chị nối tiếp tơ duyên. Người đọc dường như còn cảm thấy một khao khát nhỏ nhoi trong lòng Thúy Kiều, khao khát sống trọn vẹn, tình nghĩa, nhưng trớ trêu thay, cuộc đời bất hạnh lại không cho phép nàng thực hiện ước muốn nhỏ nhoi ấy.

        Không những thế, Kiều còn thể hiện sự khéo léo, tinh tế khi lựa lời đề cập đến hoàn cảnh của Vân để cất lời nhờ em:

Ngày xuân em hãy còn dài

Xót tình máu mủ thay lời nước non

Chị dù thịt nát xương tan

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây

        Xét về tình, Thúy Kiều và Thúy Vân là hai chị em đều đang độ tuổi cập kê, Kiều đã lấy cái cớ đó để nhờ cậy em nối tiếp mối duyên với Kim Trọng. Xét về lý, tình ruột rà máu mủ cũng là một lý do hợp lý để Thúy Vân có trách nhiệm thực hiện những mong muốn dở dang của chị. Đồng thời, nàng Kiều cũng thể hiện sự chua xót, đắng cay khi nhắc đến cái chết “Chị dù thịt nát xương tan / Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây”. Dường như khi chọn con đường bán mình chuộc cha, Kiều đã xác định về tương lai mịt mờ, dự cảm không lành về số phận nghiệt ngã. Nếu không có những chuyện tai bay vạ gió, không có những uẩn khúc gia đình thì có lẽ giờ đây, Kiều đã được hạnh phúc với tình yêu của mình. Lời nói không chỉ thể hiện cái đớn đau khi phải chia lìa gia đình mà còn chứa đựng cả những tủi thân, buồn rầu khi không được ở bên người thương. Trong hoàn cảnh ấy, nàng chỉ biết nhờ đến em, để sau này khi “thịt nát xương tan”, nàng vẫn có thể ngậm cười nơi chín suối, nhìn em mình và người yêu được hạnh phúc vẹn toàn, được thực hiện trọn vẹn lời hứa với Kim Trọng. Trao đi mối duyên mà nàng hằng khao khát, nâng niu là điều đau đớn đến tột cùng, nhưng Kiều đã chấp nhận chọn chữ hiếu để cứu cha, chỉ một lòng mong em hãy đồng ý giúp nàng nối tiếp mối duyên tình để không phụ lòng Kim Trọng.

        Trao cho em những vật đính ước, Kiều thủ thỉ tâm tình với em những lời chân thành nhất:

Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ, vật này của chung.

Dù em nên vợ nên chồng

Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.

Mất người còn chút của tin,

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

        Chiếc vành, bức tờ mây, phím đàn, mảnh hương nguyền, những kỉ vật của mối tình đầu thanh thuần, ngây thơ. Nhìn những kỉ vật ấy, lòng người con gái sao tránh khỏi bồi hồi, nhớ nhung. Trong hoàn cảnh ấy, khi Kim Trọng đang ở xa, không hề hay biết tin tức gì, bản thân chuẩn bị một cuộc đời lưu lạc, chẳng rõ tương lai đi đâu về đâu, sự xót xa, đau đớn lại dâng đến tận cùng. Những kỉ vật ấy thật khó lòng buông bỏ, vì thế mà câu “Duyên này thì giữ, vật này của chung” có phần lạ kì, ngập ngừng. Duyên đã trao đi rồi nhưng hiện vật thì chẳng nỡ lòng nào chối bỏ, nên Kiều vẫn muốn giữ đó làm “của chung”, của cả hai chị em. Câu nói có một chút con gái, một chút ích kỉ nhưng cũng dễ hiểu thôi, chẳng cô gái nào muốn san sẻ tình yêu của mình với ai khác. “Dù em nên vợ nên chồng / Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên”, một câu dặn dò của Thúy Kiều với em gái, rằng dù em thay chị kết duyên cùng Kim Trọng, nhưng bản thân chị là người yêu của chàng, chỉ mong đến ngày hạnh phúc, em đừng quên tấm lòng chị, số phận bạc bẽo đưa đẩy chị đến đường cùng chứ thật tâm chẳng hề muốn rời xa. Có người cho rằng, Kiều là một cô gái ích kỉ, nhỏ nhen, rành rành thân phận nhờ vả mà còn đòi hỏi, yêu cầu. Nhưng nhìn về mặt tình cảm, sự ngập ngừng, không rõ ràng từ Kiều cũng chỉ bắt nguồn từ tình yêu chân thành, từ tấm lòng người con gái lần đầu biết yêu mà lại buộc phải chia lìa. Chỉ còn vài kỉ vật làm của tin, làm hiện vật chứng minh tình cảm, chẳng ai cam tâm trao cho người khác, kể cả đó là ruột thịt, máu mủ.

        Trao lại kỉ vật cho em nhưng tâm hồn Kiều vẫn không thể nguôi ngoai, thật tâm vẫn chưa hề quên đi Kim Trọng:

Mai sau dù có bao giờ

Đốt lò hương ấy, so tơ phím này,

Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

Hồn còn mang nặng lời thề

Nát thân bồ liễu, đền nghì trúc mai.

Dạ đài cách mặt khuất lời

Rưới xin chén nước cho người thác oan.

        Lời nói mang một sự đau lòng não nề, Kiều tự coi mình là kẻ đoản mệnh, những câu từ thể hiện Kiều đã ở một thế giới khác, không thể trở về với cuộc sống bình thường, không được đoàn tụ với gia đình. Sống trong một xã hội bất công, nơi con người sẵn sàng hãm hại nhau vì đồng tiền, Kiều không dám nghĩ đến việc mưu cầu cho hạnh phúc cá nhân mà chỉ dám mong được chứng kiến hạnh phúc của em gái và người yêu. Sự bế tắc và khổ đau trong lòng nàng chất chứa trong từng câu nói. “Lò hương, ngọn cỏ lá cây, hiu hiu gió, hồn, nát thân, cách mặt khuất lời, người thác oan”, hàng loạt những từ mang âm hưởng cô tịch, chết chóc như một vết cứa vào lòng người đọc. Người con gái tuổi mới mười tám đã nghĩ đến cái chết bi kịch, cái chết oan khuất, bế tắc. Nhưng bản thân người con gái ấy lại chỉ mong mỏi được thanh thản, có thể giũ bỏ hết tình duyên dương thế. Đau xót thay cho một số phận tài sắc vẹn toàn nhưng sớm rơi vào lam lũ, bi kịch, chấp nhận bán mình chuộc cha nhưng vẫn nghĩ đến nghĩa tình, thề hẹn.

        Tâm sự với em, Thúy Kiều cũng không quên gửi lời tới Kim Trọng với những dòng tâm trạng tha thiết:

Bây giờ trâm gãy gương tan,

Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân.

Trăm nghìn gửi lạy tình quân

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!

Phận sao phận bạc như vôi

Đã đành nước chảy, hoa trôi lỡ làng

Ơi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây.

        Tâm sự với Kim Trọng nhưng thực chất, Kiều chỉ được độc thoại với chính mình, vì người nàng yêu đang ở phương xa, đâu hay biết gì tình thế của nàng hiện tại. Nàng ý thức được số phận bạc bẽo bằng những điển cố “gương gãy”, “trâm tan”, những hình ảnh gợi sự chia lìa đôi lứa. Xét đến cùng, mục đích của cuộc trao duyên này là do mối tình nặng nghĩa với Kim Trọng chưa thể kết thúc, nên trong những lời cuối gửi đến chàng, Kiều luôn muốn nhắc lại những hoài niệm tươi đẹp của hai người trước khi buộc phải tự mình cắt đứt mối duyên chẳng được bao lâu. “Muôn vàn ái ân” nay đã trở thành quá khứ, sự thật giờ chỉ còn “tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi!”.Cùng với nỗi tiếc nuối về tình yêu, Kiều còn khóc thương cho số phận của mình. Phận nữ nhi chân yếu tay mềm trong xã hội xưa đã bị rẻ rúng, giờ đây lại còn “bạc như vôi”, “nước chảy, hoa trôi lỡ làng”, sự bất lực, phó mặc số phận vì không có tiếng nói, không có quyền tự quyết định . Tiếng gọi xé lòng ” Hỡi Kim Lang!” thay cho một lời than, tiếng khóc tức tưởi. Cách gọi “lang” là cách gọi chồng trong xã hội xưa, cho thấy tình cảm của Thúy Kiều vô cùng chân thành, thủy chung, dù có bất kì hoàn cảnh nào thì lời thề duyên lứa của nàng đêm ấy vẫn vẹn nguyên. Có thể, người đọc cảm thấy một chút phi lý trong câu nói của Kiều, rằng tại sao đã trao duyên với em rồi nhưng vẫn gọi Kim Trọng là “lang”, là chồng, Phải chăng, trong dòng hồi tưởng về những giây phút ở cạnh nhau, Thúy Kiều được tạm quên đi những đớn đau nàng phải đối mặt, nhưng cảm giác tội lỗi của mình với chàng Kim, chỉ còn nàng với chàng, hai người yêu nhau say đắm, là vợ chồng. Câu gọi bật ra vừa để thể hiện ước nguyện được hạnh phúc của Thúy Kiều, vừa thể hiện tấm lòng nặng tình nặng nghĩa của nàng, một nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong xã hội xưa.

        Đoạn trích “Trao duyên” đã khái quát một cách sâu sắc nhất những cung bậc cảm xúc của Thúy Kiều khi buộc phải rời xa người yêu, đành trao duyên lại nhờ cậy em gái tiếp tục lời hứa với Kim Trọng. Một người phụ nữ yêu hết mình, thủy chung da diết, lại khéo léo, sắc sảo nhưng bạc mệnh, long đong. Bằng bút pháp nghệ thuật khai thác tâm lý nhân vật, để nhân vật tự bộc lộ cảm xúc qua hành động, cử chỉ, tác giả đã truyền đạt tới người đọc niềm thương xót cho bi kịch tình yêu tan vỡ của nàng Kiều. Tâm trạng nhân vật được đặc tả qua những chi tiết đắt giá, thể thơ lục bát uyển chuyển, mềm mại cùng những từ ngữ mạnh, gợi sự xót xa đã làm rung động trái tim bạn đọc với những nỗi niềm của nhân vật.

Thân bài Trao duyên – Bài mẫu 2

        Trước hết, trong đoạn trích “Trao duyên” Thúy Kiều hiện lên là một người phụ nữ khôn khéo, thông minh và sắc sảo. Sự thông minh, sắc sảo ấy của Thúy Kiều trước hết được thể hiện ở lời nói, hành động của Thúy Kiều khi nhờ vả Thúy Vân thay mình nối duyên với Kim Trọng:

Cậy em em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

        Có thể thấy, trong lời nói của mình, Kiều đã sử dụng những từ ngữ giàu ý nghĩa. “Cậy” chính là sự nhờ vả, trông chờ, dựa dẫm tất cả vào người đối diện. “Lạy” và “thưa” là những từ dùng để diễn tả thái độ, hành động của người bề dưới đối với người bề trên. Và với cách sử dụng những từ ngữ như vậy cho thấy Kiều đang nhận mình ở vị thế dưới Thúy Vân. Theo lẽ thường, trong đời sống văn hóa của người Việt, việc Thúy Kiều là chị nhưng lại “lạy”, “thưa” em mình là Thúy Vân là điều vô lí, nhưng trong hoàn cảnh của Thúy Kiều lúc này ta thấy đó là một điều hết sức phù hợp, bởi Thúy Kiều đang muốn nhờ em mình nối duyên thay mình và Kiều chính là người mang ơn Thúy Vân, với hành động đó của Kiều Thúy Vân sẽ khó lòng có thể từ chối. Hành động, lời nói nhờ vả của Thúy Kiều đã chứng tỏ sự thông minh, tinh tế của nàng.

        Không dừng lại ở đó, sự thông minh, sắc sảo của Thúy Kiều còn được thể hiện rõ nét qua những lí lẽ Kiều đưa ra để thuyết phục em. Trong lời thuyết phục ấy, đầu tiên, Thúy Kiều nói về mối tình của mình với Kim Trọng. Mối tình đẹp như mơ ấy đang độ mặn nồng ấy vậy mà “giữa đường đứt gánh tương tư”, bao hẹn thề chỉ còn lại “mối tơ thừa”, tình cảm ấy đứt gánh từ đây. Thêm vào đó, Thúy Kiều còn nói với em về hoàn cảnh hiện tại của bản thân, khi phải đứng giữa sự lựa chọn đầy khó khăn giữa hiếu và tình. Và cuối cùng, Thúy Kiều thuyết phục em bằng tình cảm chị em ruột thịt máu mủ và những dự cảm về cái chết, về tương lai của mình.

Ngày xuân em hãy còn dài

Xót tình máu mủ thay lời nước non

Chị dù thịt nát xương mòn

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

        Có lẽ hơn ai hết, Thúy Kiều biết Vân đang còn trẻ, còn nhiều thời gian và cả tương lai rộng mở phía trước, vì vậy, Kiều mong Vân vì tình cảm chị em, máu mủ ruột rà mà chấp nhận lời khẩn cầu của Kiều, kết duyên với Kim Trọng. Thêm vào đó, Kiều còn nói về cái chết của mình – một cái chết đầy sự mãn nguyện thông qua việc sử dụng hàng loạt các thành ngữ “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối”.

        Như vậy, qua những hành động và lời lẽ mà Thúy Kiều sử dụng để thuyết phục Thúy Vân thay mình nối duyên với Kim Trọng có thể thấy Kiều là một cô gái tinh tế, khôn khéo, thông minh và sắc sảo. Không chỉ là một cô gái thông minh, Kiều còn là một người con gái hiếu thảo với cha mẹ và thủy chung, giàu ân tình với người yêu.

        Cơn gia biến ập đến gia đình của Kiều, điều đó đã được gợi đến một cách khéo léo qua việc sử dụng từ ngữ “sóng gió bất kì”, Kiều đứng trước sự lựa chọn giữa chữ hiếu và chữ tình.

Sự đâu sóng gió bất kì

Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai.

        Lựa chọn giữa hiếu và tình là một sự lựa chọn đầy khó khăn của Kiều nhưng là con gái lớn trong nhà, Kiều không thể làm khác được, Kiều chọn chữ hiếu, chọn bán mình để chuộc cha và em. Sự lựa chọn ấy của Thúy Kiều xét đến cùng là biểu hiện của một người con hiếu thảo, nàng sẵn sàng hi sinh bản thân, hi sinh tình yêu của mình những mong gia đình được êm ấm.

        Là người con hiếu thảo nhưng đồng thời Kiều cùng là một người tình thủy chung và rất giàu ân tình với người yêu. Sự thủy chung của Thúy Kiều được thể hiện trước hết ở việc Kiều luôn nhớ đến những “quạt ước, chén thờ” – những lời hò hẹn, thề nguyền của cả hai. Và để rồi, khi gia đình gặp tai biến, nàng không có sự lựa chọn nào khác thì vẫn nhờ em thay mình nối duyên với Kim Trọng và trao lại kỉ vật cho em. Trao lại kỉ vật, minh chứng tình yêu cho em gái mình, Thúy Kiều không quên dặn em:

Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ vật này của chung.

        Những kỉ vật tình yêu của Kiều, Kim nay đã trở thành “của chung” song “duyên này” – tình yêu của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng sẽ còn mãi trong trái tim của Thúy Kiều, không bao giờ mất đi. Lời thơ vang lên vừa thể hiện nỗi đau của Thúy Kiều nhưng hơn hết, qua đó giúp chúng ta cảm nhận được Kiều là một người thủy chung và giàu ân nghĩa đối với người yêu.

        Cuối cùng, trong đoạn trích “Trao duyên” có thể thấy Thúy Kiều là một con người giàu đức hi sinh và lòng vị tha. Bán mình chuộc cha và em, nhờ em thay mình nối duyên với Kim Trọng trước gia biến đầy bất ngờ của gia đình, thế nhưng, Thúy Kiều đã nhận hết lỗi về mình, tự nhận mình là người phụ bạc khiến cho tình yêu của nàng và Kim Trọng tan vỡ – “Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây”. Thêm vào đó, hành động “gửi lạy tình quân” của Thúy Kiều chính là cái “gửi lạy” với mong muốn được tạ lỗi với Kim Trọng.

Thân bài Trao duyên – Bài mẫu 3

        Ngôn ngữ được sử dụng trong một tác phẩm văn học luôn là yếu tố được quan tâm hàng đầu, quyết định chỗ đứng của tác phẩm ấy trong bản đồ văn học. Ngay từ khi chắp bút, người nghệ sĩ cần cẩn trọng lựa chọn phong cách ngôn ngữ, đảm bảo cả về mặt nội dung và hình thức, vừa tuân theo những chuẩn mực nghệ thuật, vừa cần có cái tôi cá nhân.Ngôn từ là kênh giao tiếp duy nhất giữa tác giả và độc giả,vì vậy, thơ văn chính là sản phẩm tinh lọc từ cuộc sống đời thường, dưới con mắt và tâm hồn duy mĩ. Một tác phẩm thơ hay không chỉ là vần điệu, mà ngôn từ còn phải sắc sảo, ngắn gọn nhưng đủ ý, câu thơ ngắn nhưng ý tử phải khơi gợi, tạo ra cái nhìn đa chiều cho độc giả. Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ văn chương, ngôn từ văn học đòi hỏi phải có tính gợi, được sắp xếp và lựa chọn cẩn thận nhằm truyền tải nội dung, tư tưởng của người viết.

Trong đoạn trích Trao duyên, ngôn ngữ nghệ thuật được thể hiện ở ba khía cạnh: tính thông tin, đảm bảo nội dung, diễn biến sự kiện, tính hình tượng gợi tả, gợi cảm chân thực và tính cá thể hóa, bộc lộ được tâm tư, tình cảm cụ thể của nhân vật. Ba yếu tố đó được Nguyễn Du chắp bút hài hòa, điều độ, cân bằng, tạo nên một tổng thể cân đối nhưng không kém phần đặc sắc, mới mẻ.

        Ngôn ngữ nghệ thuật trong “Trao duyên” thể hiện chức năng thông tin. Qua đoạn trích, người đọc có thể nắm bắt được hoàn cảnh của nhân vật Thúy Kiều, gia đình gặp biến cố, Kiều buộc phải bán mình chuộc cha, phải xa rời người thân và người yêu đã thề non hẹn biển. Rơi vào đường cùng, chẳng còn cách nào khác, nàng phải nhờ cậy vào người em gái Thúy Vân mong em hoàn thành mối duyên với Kim Trọng giúp mình. Mở đầu đoạn trích, người đọc nhận thấy sự xuất hiện của những từ “cậy”, “chịu”, “lạy”, “thưa” đều là những từ nhún nhường, nhờ vả. Tuy là chị gái, lớn tuổi hơn em, nhưng Thúy Kiều vẫn cung kính, van lơn mong em chấp nhận lời nhờ cậy của mình. Vài động từ vỏn vẹn đã mở ra hình dung về một số phận thấp kém, đáng thương, chỉ có thể phụ thuộc vào người khác. Cái cốt ở đây Nguyễn Du muốn làm rõ là tính thương tâm của số phận nàng Kiều, người con gái liễu yếu đào tơ tại sao lại có cuộc đời khốn khổ đến như vậy, phải lạy nhờ em gái mình. Tác giả không trực tiếp cung cấp thông tin về những diễn biến sự việc, mà qua lời nhân vật để thể hiện sự việc “trao duyên”. Tình cảm nhân đạo cũng được lồng ghép, thấm đẫm trong từng câu chữ, gửi gắm nỗi thương cảm và sẻ chia đối với số phận bất hạnh của người phụ nữ tài sắc vẹn toàn.

        Vẻ đẹp ngôn ngữ nghệ thuật của đoạn trích được thể hiện ở tính hình tượng, khả năng gợi tả hình ảnh khiến cho nhân vật và sự việc như bước ra ngoài đời thật, mang lại cho độc giả cảm giác gần gũi, chân thực và đồng cảm. Tác giả khắc họa những cử chỉ, hành động của Thúy kiều để làm nổi bật lên suy nghĩ của nàng. Từ “cậy em” đặt ở đầu đoạn trích gợi ra một tình huống bắt buộc, không còn cách nào có thể giải quyết. Xét theo vai vế, Thúy Kiều là chị của Thúy Vân, nhưng vì thân phận đang đi nhờ vả em gái nên nàng chấp nhận “lạy”, “thưa” em mình. Nỗi lòng đắng cay của người con gái buộc phải bán mình chuộc cha, hi sinh cả hạnh phúc của bản thân để đổi lấy sự ấm êm của gia đình. Kiều van xin, lạy lục em, đồng thời khiến cho Thúy Vân cảm thấy phải có trách nhiệm thực hiện lời nhờ vả của chị vì chị đã bán thân chuộc cha, nay nàng chỉ có thể san sẻ với chị bằng cách hoàn thành trọn vẹn lời ước thề của chị với KIm Trọng. Chỉ với từ “cậy” thôi, tác giả cũng có thể gợi ra nhiều đặc điểm về nhân vật Kiều, một cô gái mỏng manh yếu đuối nhưng bất hạnh, phải đi trong nhờ vào người khác, hằng mong họ hãy tiếp tục giữ trọn lời hứa với người yêu của nàng.

        Tác giả sử dụng những điển cố, điển tích điển hình để thể hiện nỗi đau đớn, xót xa của Thúy Kiều.””Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề”, “trâm gãy bình tan”, “ngậm cười chín suối”, “Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai”. Hàng loạt những hình ảnh gợi tả được tác giả đề cập đến nhằm làm nổi bật nỗi thống cổ trong hoàn cảnh éo le của nàng Kiều. Điển tích “quạt ước”, “chén thề”, những điển tích gợi sự kết duyên đôi lứa. Quạt ước là vật làm tin Thúy Kiều trao cho Kim Trọng, “chén thề” là chén rượu giao duyên, hai người vòng tay nhau cùng uống chén rượu lứa đôi thề nguyện bên nhau trọn đời. Tình cảm lứa đôi mơn mởn, tươi đẹp là thế, nhưng hạnh phúc chẳng tày gang. Giờ đây, Thúy Kiều sắp phải lìa xa người mình yêu, chẳng rõ khi nào tương phùng. Cái đau đớn nhất, khổ tâm nhất của cuộc đời là không thể cứu vãn được những điều mình trân quý, phải tự tay cắt đứt mối duyên, chấp nhận trao lại cho người khác. “Trâm gãy bình tan”, “trâm”, “bình” cũng là những vật được xuất hiện trong đám cưới thời phong kiến, “trâm gãy bình tan” là lứa đôi đổ bể, mối tình chia cắt. Thúy Kiều phải rời xa Kim Trọng khi thậm chí chàng còn đang ở quê nhà, không hay biết gì về tin người yêu mình bán thân. Còn gì đau xót bằng cho mối tình dở dang này, khi cả hai còn mặn nồng thắm thiết, nhưng”bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn”, Kiều chấp nhận bán mình chuộc cha, để lại mối tình dở dang. Hình ảnh “bồ liễu”, “trúc mai” gợi sự yếu ớt, mong manh của số phận người con gái trong xã hội cũ, nơi mà đạo tam tòng đã ăn mòn vào suy nghĩ của nhân dân, người phụ nữ không có tiếng nói. Đi kèm với “nát thân”, “đền nghì” và “ngậm cười chín suối”, người đọc dễ liên tưởng đến kết cục bi thảm, đến cái chết của Thúy Kiều. Đáng thương thay một cô gái đang đổ tuổi trăng tròn như vậy mà chỉ nghĩ đến sự kết thúc của cuộc đời đang cận kề. Bán mình chuộc cha, Kiều cũng đã xác định về cái chết, xác định mãi mãi không thể trở về bên gia đình thân thương. Hiện lên trên từng câu chữ là hình bóng tội nghiệp, đau khổ, yếu đuối của nàng Kiều, chọn báo hiếu nhưng sự chia rẽ tình cảm vẫn dày vò nàng khôn nguôi. Nỗi xót xa về tình yêu tan vỡ cùng sự mất phương hướng. tương lai mù mịt, trắc trở. Sự chân thật trong cách miêu tả của Nguyễn Du khiến người đọc đồng cảm, sẻ chia với nỗi đau của nhân vật, đồng thời thương xót cho một kiếp người nghiệt ngã kiếp người bé nhỏ như thân liễu trong gió, mỏng manh không thể chống cự. Vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật đã khắc họa rõ nét hình ảnh nhân vật, mang đến cho người đọc không chỉ hình tượng chân thực mà còn chạm đến trái tim và lòng trắc ẩn, nhân ái.

        Vẻ đẹp ngôn từ của “Trao duyên” còn được thể hiện ở tính cá thể hóa. Có người từng nói, “Trao duyên” là đối thoại nhưng thực chất là độc thoại, độc thoại của Thúy Kiều thể hiện ý chí quyết tâm cắt bỏ đoạn tình cảm với chàng Kim, nhưng rồi lại khổ đau tột cùng khi nghĩ đến việc phải rời xa người yêu. Điều này thể hiện rất rõ qua những câu thơ:”Duyên này thì giữ, vật này của chung.”, ” Dù em nên vợ nên chồng/ Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.”/ Rõ ràng, Kiều đã trao cho Vân những kỉ vật làm tin giữa hai người, nhưng “Duyên này thì giữ, vật này của chung”, duyên đã trao đi rồi nhưng kỉ vật lại luyến tiếc, chẳng nỡ rời xa. Kiều vẫn muốn giữ lại chút tấm lòng, chút tình cảm sâu nặng giữa hai người, thể hiện lối suy nghĩ của một cô gái sắc sảo, thông minh. Chẳng cô gái nào muốn san sẻ tình yêu của mình với ai khác. “Dù em nên vợ nên chồng / Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên”. Du đã nhờ Thúy Vân thay mình kết duyên cùng Kim Trọng, nhưng xét đến cùng, chị mới thật sự là người chàng yêu thương. Nếu sau này có hạnh phúc, hãy nhớ đến chị là người đã nên duyên, đã chấp nhận trao lại mối tình này cho em. Có người cho rằng, Kiều là một cô gái ích kỉ, nhỏ nhen, rành rành thân phận nhờ vả mà còn đòi hỏi, yêu cầu. Nhưng nhìn về mặt tình cảm, sự ngập ngừng, không rõ ràng từ Kiều cũng chỉ bắt nguồn từ tình yêu chân thành, từ tấm lòng người con gái lần đầu biết yêu mà lại buộc phải chia lì. Nguyễn Du đã rất thành công trong việc khắc họa tính cách đặc trưng của nhân vật, tạo nên một hình tượng nàng Kiều tuy bị đưa đẩy vào bước đường cùng nhưng vẫn có cá tính, luôn mong muốn, mưu cầu hạnh phúc cá nhân. Tính cá nhân hóa đảm bảo cho tác phẩm mang nét độc đáo, riêng biệt, không bị hòa lẫn với bất cứ tác phẩm nào khác.

Thân bài Trao duyên – Bài mẫu 4

        Thúy Kiều là một người con gái tài sắc vẹn toàn, nàng không chỉ xinh đẹp mà còn vô cùng tài hoa. Sau một lần đi chơi tiết Thanh minh, nàng gặp Kim Trọng – một chàng trai hào hoa phong nhã và hai người vừa gặp đã yêu mến nhau ngay từ giây phút đầu tiên “tình trong như đã, mặt ngoài còn e”, và họ đã cùng thề nguyền dưới đêm trăng, trao cho nhau những kỷ vật định tình. Thế nhưng sóng gió bất ngờ ập tới với gia đình Kiều, nàng buộc phải bán mình cho Mã Giám Sinh để cứu lấy cha và em. Trong đêm trước ngày ra đi, nàng bồi hồi nhớ lại mối tình say đắm của mình với Kim Trọng, nhân lúc Thúy Vân thức dậy hỏi han, nàng đã cậy nhờ em gái trả nghĩa cho Kim Trọng thay mình.

        Mở đầu lời cậy nhờ, Thúy Kiều đã nói lên tiếng lòng của mình trong nỗi đau đớn, sự dằn vặt, nặng nề, khó nói. Nàng mở lời với em gái của mình nhưng lại với thái độ kính cẩn như đối với bậc bề trên:

Cậy em em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

Nàng đau đớn bộc lộ hết nỗi lòng của mình cho em rồi bày tỏ lý do trao duyên cho em. Có thể nhận ra rằng, tâm trạng của Kiều diễn biến vô cùng phức tạp, nàng bộc lộ nỗi đau khổ, nỗi dằn vặt nhưng cũng bộc lộ sự thông minh, khéo léo vô cùng của mình.

        Đến lúc Thúy Vân đã hiểu và cảm thông, Kiều mới đem từng món đồ kỉ vật ra trao lại cho em của mình:

Chiếc vành với bức tờ mây

Duyên này thì giữ, vật này của chung

Dù em nên vợ nên chồng

Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên

Mất người còn chút của tin

Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

        Từng món, từng món được Kiều đích thân trao tận tay em gái, từ “chiếc vành”, “bức tờ mây”, rồi “phím đàn”, “mảnh hương nguyền”. Tất cả những kỉ vật ấy đều gắn liền với những kỷ niệm tình yêu hạnh phúc nhất của Kiều, chúng đều vô cùng đơn sơ, giản dị nhưng chứa chan bao nhiêu là niềm vui, niềm hạnh phúc. Nhìn chúng, Kiều nhớ tới quá khứ, tới những phút giây thề nguyền bên ánh trăng trong duyên phận ngắn ngủi của nàng và chàng. Nàng trao cho em nhưng lại ngập ngừng ngắm nghía thật lâu từng món đồ ấy với sự tiếc nuối khôn nguôi. Kiều trao cho Vân kỷ vật, cùng là trao lại tình duyên của mình cho em, để Vân giúp mình trả lại nghĩa tình cho Kim Trọng. Mỗi vật kỷ niệm kia có thể với Vân chỉ là vật vô tri, nhưng với Kiều, đó là bầu trời của kỷ niệm, của yêu thương, của hạnh phúc, của lời thề nguyền đẹp đẽ nhất cuộc đời. chính vì vậy, nàng căn dặn em rằng:

“Duyên này thì giữ, vật này của chung”

        “Duyên này” là chỉ mối tình của nàng với Kim Trọng, nàng chỉ giữ lại kỉ niệm, còn tín vật thì trao lại cho Thúy Vân. Từ giờ, tín vật này sẽ là “của chung”, trước là của Kiều và Kim Trọng nay thêm cả Thúy Vân nữa. Từ lúc bắt đầu ướm gửi, mở lời với Vân, Kiều vẫn luôn giữ thái độ vô cùng bình tĩnh, bình thản, bởi nàng hiểu rằng, duyên phận giữa nàng với chàng Kim từ nay đã hết. Nhưng giờ đây, khi trao đi những tín vật tình yêu, nàng chẳng thể kìm nén được cảm xúc, nỗi đau đớn, xót xa, tiếc nuối bùng lên trong lòng. Nàng trao đi duyên phận không phải vì hết yêu, không phải vì nàng quên đi lời thề, quên đi đoạn tình yêu đẹp đẽ mà là do bất đắc dĩ mà thôi.

        Trao “duyên” xong, nhưng lòng Kiều càng nặng trĩu, đầy những giằng xé, những níu kéo, tiếc nuối vô cùng. Lý trí bắt nàng từ bỏ tình yêu với chàng Kim Trọng yêu thương, nhưng trái tim và tình cảm của Kiều lại không cho phép nàng làm vậy. Câu thơ:

“Dù em nên vợ nên chồng

Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên”

        Đây chẳng phải là nỗi thương mình của Kiều hay sao? Nàng tự thương mình, coi mình là “người bạc mệnh” khiến cho người ta phải thương xót. Kiều trao đi tín vật nhưng trong lòng nàng chẳng thể trao lại hết đoạn tình cảm của mình ”mất người còn chút của tin”, đây sẽ mãi là ước hẹn trăm năm của nàng và chàng Kim Trọng. Kiều đã dùng dằng, đã mất công sức thuyết phục Thúy Vân để gửi lại tình yêu của mình cho em, đến lúc em nhận lời, nàng mới nhận ra lòng mình đầy mâu thuẫn. Nàng không nỡ buông bỏ tình cảm tình yêu của mình, bởi ở đây, Kiều không dùng từ “cho, tặng” mà lại là từ “giữ”, nàng không cho Vân hết tín vật mà lại là “của chung”. Thế mới hiểu, nàng chẳng đành lòng trao hết tất cả cho em mình, chỉ là nàng bất đắc dĩ phải làm như vậy mà thôi. Và điều đó cũng chứng tỏ, tình yêu của Thúy Kiều dành cho Kim Trọng vô cùng thủy chung và sâu sắc. Nàng phải ra đi, nên đã trao lại duyên cho em, để em thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng, để chàng không phải hụt hẫng khi trở về đã thấy nàng rời xa, nàng thật biết lo nghĩ cho người mình yêu, thật biết đặt hạnh phúc của chàng lên trên tất cả.

        Sáu câu thơ là tiếng nấc nghẹn ngào, giằng xé của Thúy Kiều khi buộc lòng phải trao đi những vật hẹn thề tình yêu của mình cho em gái. Nàng kết lại bằng hai chữ “ngày xưa” như để chấm dứt cho nỗi lòng đang thổn thức bởi dằn vặt, luyến tiếc của mình về đoạn quá khứ đầy hạnh phúc mà giờ đây chỉ còn là kỉ niệm.

        Trao đi tấm duyên tình, Kiều dường như đã cảm nhận một cách thật mơ hồ về số phận tương lai của mình, chính vì vậy, nàng đã để lại lời dặn dò cho Thúy Vân rằng:

Mai sau dù có bao giờ

Đốt lò hương ấy, so tơ phím này

Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về

Hồn còn mang nặng lời thề

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai”

        Đoạn thơ rặt những từ ngữ điểm báo chỉ sự không lành, như là sự dự cảm về cái chết. Kiều đã sử dụng một loạt những từ ngữ, hình ảnh gợi về cái chết, nào là “hiu hiu gió thổi”, “hồn”, “nát thân bồ liễu”, nào là “dạ đài”, “người thác oan”. Có người chị nào đi lấy chồng mà lại tâm sự với em gái toàn những lời lẽ không tốt lành như thế? Phải chăng đây là dự cảm của nàng cho tương lai của mình, đầy những đau khổ, tuyệt vọng. Đoạn thơ giờ đây trầm buồn, sâu lắng hơn, như lời tâm sự của Kiều. Giọng điệu thơ cứ xa xôi, phảng phất những dự cảm mơ hồ, bất an. Kiều đã tưởng mình sẽ chết, làm “người thác oan” và chẳng thể siêu thoát bởi “hồn” nàng của nặng lời thề với Kim Trọng. Phải chăng, nàng đã mơ hồ sự đoán được bi kịch của cuộc đời mình, bi kịch cô độc, đau xót? Nàng đã tưởng mình là một linh hồn, “hiu hiu” theo gió nương về cảnh sum họp của Kim Trọng, Thúy Vân, về lại để gặp người mình thương yêu. Duyên thì hết, tín vật cũng đã gửi nhưng trong lòng nàng vẫn chẳng thể quên được mối tình đầu đẹp như thơ. Nàng dằn vặt, đau đớn, tuyệt vọng bao nhiêu thì chứng tỏ tình cảm của nàng dành cho Kim Trọng càng nồng nàn, sâu sắc bấy nhiêu.

        Cuối cùng, Kiều dặn lại em rằng:

“Dạ đài cách mặt khuất lời

Rảy xin chén nước cho người thác oan”

        “Dạ đài” – nơi âm phủ tối tăm, cách trở âm dương đôi đường, nàng chỉ xin được một sự cảm thông nhỏ bé, tưởng nhớ của những người thân yêu mà “rảy xin chén nước” cho linh hồn bạc mệnh của mình. Kiều lo lắng, sắp xếp cho người thương xong mới nhận ra số kiếp bạc bẽo của mình. Chén nước “rảy xin” kia là nàng xin người ở lại tẩy cho mình nỗi oan khuất. Điều đó chứng tỏ rằng nàng dù chết nhưng vẫn muốn vẫn khao khát được trở lại, được trở về bên người yêu, bên tình yêu mãnh liệt của mình.

        Một mặt, nàng dặn em phải thay mình đền đáp ơn nghĩa của chàng Kim thật tốt, một mặt nàng xin được tẩy oan để trở lại. Đó là sự giằng xé sâu trong tâm can của Kiều, nỗi bứt rứt, dằn vặt khôn nguôi trong lòng khi sự ra đi của nàng là bất đắc dĩ, nàng không hề quên lời thề, bởi vậy có chết đi, nàng vẫn chẳng thể siêu thoát. Có phải chăng trong đó, Kiều cũng đang dự cảm mà lo lắng, sợ hãi cho tương lai mù mịt của mình?

        Mười bốn câu thơ trao kỷ vật tình yêu trong đoạn trích Trao Duyên đã cho thấy sự giằng xé nội tâm, mâu thuẫn lớn lao trong lòng Kiều. Nàng trao đi kỷ vật, mong Thúy Vân giúp mình hoàn thành lời hẹn thề với Kim Trọng nhưng nàng lại dằn vặt, đau đớn, chua xót khi phải rời xa mối tình đầu với bao nhiêu kỉ niệm đẹp đẽ. Qua bút pháp khắc họa nội tâm tài hoa của Nguyễn Du, ta thấy hiện lên một Thúy Kiều không chỉ giàu lòng vị tha mà còn vô cùng nhạy cảm, tràn đầy yêu thương. Nỗi đau đớn khi tình yêu tan vỡ và tâm trạng của Kiều cũng hiện lên vô cùng tinh tế, sinh động khiến cho người đọc cũng phải rưng rưng xúc động.

        Về nghệ thuật, đoạn trích mang giá trị biểu đạt sâu sắc, hình ảnh giàu giá trị biểu cảm. Đặc biệt, nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật và độc thoại nội tâm được Nguyễn Du sử dụng vô cùng xuất sắc, làm nổi bật lên nỗi giằng xé tâm can, đau đớn tột cùng của Thúy Kiều.

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 10,Ngữ Văn 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button