Lớp 10Ngữ Văn

Thuyết minh bài Phú sông Bạch Đằng – Văn mẫu 10 hay nhất

Thuyết minh bài Phú sông Bạch Đằng

      Bùi Quang Nguyên đã khẳng định Bạch Đằng giang phú “khắc họa một cảnh trí mỹ lệ của Tổ Quốc với cả hình bóng chiến công oanh liệt của quân dân ta thời trước”, là “một bài phú mẫu mực chẳng những thể hiện đậm nét hào khí Đông A của văn học đời Trần mà còn có giá trị to lớn trong lịch sử văn học nước nhà”.

      Nhắc đến thể loại phú thì không thể không kể đến tác giả Trương Hán Siêu. Theo Toàn thư, Trương Hán Siêu nổi tiếng khá sớm, khi chưa đầy 16 tuổi đã trở thành môn khách của Trần Hưng Đạo. Trong Toàn thư cũng đã khẳng định: “Trương Hán Siêu… là môn khách (của Hưng Đạo vương) đều do văn chương, chính sự nổi tiếng với đời”. Trong hai lần kháng chiến chống quân Nguyên, ông trực tiếp tham gia đều lập chiến công và được tiến cử lên triều đình. Từ đời vua Trần Anh Tông (1266 – 1320) Đến đời vua Trần Minh Tông (1299 – 1357), ông được bổ dụng chức Hàn lâm học sĩ rồi được thăng lên chức Hành Khiển. Đến năm Kỷ Mão 1339, Trương Hán Siêu giữ chức Môn hạ hữu tư Lang trung. Sang đời vua Trần Dụ Tông (1335 – 1369), Trương Hán Siêu cùng với Nguyễn Trung Ngạn soạn hai bộ sách Hình Luật Thư, và Hoàng Triều Đại Điển, xây dựng căn cứ pháp chế cho việc cai trị, khi ông đang làm Kinh lược sử Lạng Giang thì được thăng lên chức Tả giám nghị đại phu (năm 1345).

Bạn đang xem: Thuyết minh bài Phú sông Bạch Đằng – Văn mẫu 10 hay nhất

       Sau khi mất, Trương Hán Siêu được truy tặng làm Thái Bảo. Ông được mệnh danh là người uyên thâm, có tư tưởng tôn Nho bài Phật, đề cao ý thức quốc gia từng làm quan  trải qua 5 đời vua nhà Trần. Với những đóng góp và công lao đã đem đến cho ông tiếng tăm lừng lẫy, vừa có tài văn chương, vừa giỏi giang chính trị nên được tôn trọng, quý mến và nể phục. Sau này, ông được thờ ở Văn Miếu Quốc Tử Giám, ngang hàng với bậc các bậc hiền triết của phái Nho gia. Bạch Đằng giang phú là tác phẩm đặc biệt nhất, ấn tượng nhất bao gồm 35 liên và 2 bài ca.

        Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam vào giai đoạn nửa sau thế kỷ XIV nảy sinh cuộc tranh giành vị trí, ảnh hưởng giữa Nho giáo và Phật giáo mà Trương Hán Siêu được coi là người đầu tiên lên tiếng phê phán đạo Phật, mở đường cho Nho giáo tiến lên. Trong sự nghiệp sáng tác ông còn các tác phẩm kể tên ba bài văn Dục Thuý sơn khắc thạch, Linh Tế tháp ký, Khai Nghiêm tự bi, Bạch Đằng giang phú,… Chưa rõ Trương Hán Siêu viết Bạch Đằng giang phú vào năm nào, nhưng qua giọng văn cảm hoài “Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá, Tiếc thay dấu vết luống còn lưu”, do đó bài phú này chỉ có thể ra đời sau khi Trần Quốc Tuấn đã mất, tức là vào khoảng 1301-1354.

        “Bạch Đằng Giang phú” là một kiệt tác thể hiện trọn vẹn từ kết cấu, nội dung, câu từ đều vượt mọi hàng rào chữ nghĩa. Đằng Giang phú là áng văn tràn nghĩa khí đặt trong bối cảnh của sự nghiệp đánh giặc giữ nước. Nguyên tác của tác phẩm bằng chữ Hán rồi sau này được Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên…dịch lại. Ở Trương Hán Siêu, hành vi ứng xử nổi bật nhất, in đậm vào sử sách nằm ở cái con mắt nhìn đời, nhìn người đầy chân thành, say đắm. Thật thiếu sót và hình như vẫn chưa đủ  khi nói Trương Hán Siêu gắn bó với cảnh trí của đất nước. Non sông gấm vóc luôn khơi nguồn cảm xúc cho những dòng chảy của thi văn, bởi thê mà hiếm thi sĩ nào lại thờ ơ trước cảnh đẹp trời cho ấy:

Nước biếc non xanh thuyền gối bãi

Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu

(Nguyễn Trãi)

        Trương Hán Siêu cũng thế thôi. Nhưng với ông, trong tình yêu thiên nhiên hình như còn có một điều gì khác hơn, muốn ngắm cho trọn, yêu cho đủ và say đắm cho đầy. Như chính ông phô bày trong vai một “người khách “ở bài Bạch Đằng giang phú đã ngược xuôi tìm đến mọi danh lam thắng cảnh:

Khách có kẻ,

Giương buồm giong gió chơi vơi;

Lướt bể chơi trăng mải miết.

Sớm gõ thuyền chừ Nguyên, Tương,

Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt;

Cửu Giang, Ngũ Hồ, Tam Ngô, Bách Việt

Nơi có người qua đâu mà chẳng biết.

Đầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ đã nhiều

Mà tráng chí tứ phương vẫn còn tha thiết…

        Cũng có thể nghĩ đấy mới chỉ là những lời tâm niệm của Trương Hán Siêu bởi các địa danh nói trên đều là điển cố trong văn liệu, ông đã tò mò tìm hiểu hay vô tình bắt gặp mà ghé thăm chúng qua trang sách, câu văn chứ chưa một lần đặt chân đến. Song cũng vì vậy, thiên nhiên như cái đích tìm kiếm của ông dường như có mang một hàm nghĩa thâm thuý: đây là nơi mà văn hóa hội tụ, là dấu mốc để con người nhìn xa vào lịch sử. Vẫn trong bài phú về sông Bạch Đằng, tiếp theo mấy câu vừa dẫn, ông liền bày tỏ ý nguyện bắt chước “thú tiêu dao” của Tử Trường tức Tư Mã Thiên – nhà viết sử nổi tiếng của Trung Quốc, trước khi bắt tay cầm bút đôi chân đã mỏi mòn những ngày rong ruổi đến và đi, đi và cảm nhận, cảm nhận và học hỏi…

       Nhà thơ đưa ra một cái tên Bạch Đằng mang trong mình dấu mốc lịch sử của trận thủy chiến với những chiến công vang dội của nó.

       Bạch Đằng giang phú ú là một bài phú lưu thuỷ, người viết đã dụng công mài giũa để từng câu chữ đến với người đọc “phong tiền khoáng hậu” lại bằng trắc đối xứng và hiệp vần. Bằng sự phân vai khéo léo giữa “khách” và “bô lão” trong nghệ thuật biểu hiện để tạo nên sự đồng hiện về thời gian, bằng cách chuyển đoạn thần tình trong tâm trạng người trần thuật từ bâng khuâng hoài cổ sang cảm xúc bồng bột của người đang chứng kiến sự việc tiếp diễn, bằng nghệ thuật sắp xếp ngôn từ gây âm hưởng đa dạng, vừa khoan thai lại vừa như gấp rút… . Tất cả nghệ thuật ấy đến từ ngòi bút điêu luyện và ghi dấu trong trái tim mỗi bạn đọc.

        Ở đây, Bạch Đằng không chỉ hiện lên kỳ vĩ tráng lệ còn mang cả những đớn đau, những vết thương từ thủy chiến năm nào:

Thiệp Đại Than khẩu

Tố Đông Triều đầu,

Để Bạch Đằng giang

Thị phiếm thị phù.

Tiếp kình ba ư vô tế;

Trám diêu vĩ chi tương mâu.

Thuỷ thiên nhất sắc

Phong cảnh tam thu

Chử địch ngạn lô

Sắt sắt sâu sâu

Chiết kích trầm giang

Khô cốt doanh khâu

Thảm nhiên bất lạc

Trữ lập ngưng mâu

Qua cửa Đại Than

Ngược bến Đông Triều,

Đến sông Bạch Đằng

Nổi trôi mặc chèo.

Bát ngát sóng kình muôn dặm

Xanh xanh đuôi trĩ một màu.

Nước trời một sắc

Phong cảnh ba thu

Sông chìm giáo gãy

Gò đầy xương khô

Buồn vì cảnh thảm

Đứng lặng giờ lâu

        Đây là hai trạng thái đối nghịch giữa động và tĩnh, giữa hiện tại và quá khứ khi bước chân “đi tìm thời gian đã mất” của tác giả. Ta chợt tự hỏi: Không hiểu giữa hiện hữu thứ nhất (thực tại tĩnh lặng trước mắt mà cũng là một hụt hẫng trong tâm trạng) và hiện hữu thứ hai thì hiện hữu nào mới là có thật? Sự vấn vương ở đây có chút gì đó làm lòng ta nặng trĩu khi một phút trầm tư nhìn lại nhịp thời gian chảy trôi quá đỗi vô tình cũng như lòng người nhanh chóng đổi thay. Nói cách khác, những âm hưởng trữ tình đối lập ở trong tác phẩm đã tạo nên một ngân vang sâu thẳm và ngân vang này chính là triết lý: sự sống là một tiếp biến không ngừng không nghỉ, cái đang diễn ra và cái đã đi vào vĩnh cửu cứ đan quyện lấy nhau, mà cái nhân tố có khả năng kết nối làm nên sự đan quyện ấy, khiến cho sợi dây chuyền vô hình nghiệt ngã của thời gian có lúc tưởng như bị đảo ngược: hiện tại không hẳn đã trôi về quá khứ tất cả, mà có phần nào đó còn trôi theo chiều ngược lại, còn có “dấu vết lưu lại” với hậu thế:

Giặc tan muôn thuở thăng bình,

Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao

        Toàn bộ bài phú cách dùng từ đặt câu đến bối cảnh thời gian, không gian đều được sắp xếp đạt đến chỗ thần tình. Nhà thơ đưa không gian Bạch Đằng từ một viễn cảnh trải rộng và hết sức bao la đến với cận cảnh của một trận thuỷ chiến dữ dội, và cuối cùng dồn vào một tiêu điểm là chỗ đứng nội tâm của nhà chỉ huy quân sự quyết định sự thắng bại của chiến cuộc, đồng thời cũng chính là đang từ một không gian hiện thực ông quay trở về hoài niệm quá khứ, trở về với tâm trí kéo theo thời gian đi lùi từ hiện tại về quá vãng. Vậy mà cảm hứng của người đọc lại không bị đẩy lùi mà dường như được đi sâu hơn, khám phá nhiều hơn và cuốn hút hơn vào chính không gian ấy góp phần hoá giải tâm trạng hoài cổ của bài phú, tạo nên nét lôi cuốn, đưa ra điểm nhìn mới và đem đến chiều sâu cũng như xây dựng cảm xúc thẩm mỹ.

       Tóm lại, bằng lượng thông tin đa nghĩa, những ẩn ngữ phong phú đọng lại phía sau ngôn từ, Bạch Đằng giang phú đã đem đến cái nhìn đa chiều, đa diện, góp một tiếng nói riêng vừa có màu, có sắc, có chiều sâu trong lòng người đọc. Quả thật bút pháp Trương Hán Siêu quả đã đến một trình độ bậc thầy.

       Trương Hán Siêu là một danh nhân nổi tiếng của mảnh đất Trường Yên –một cái tên mang đậm nét truyền thống cũng như tiếng tăm của vùng đất văn vật này và cũng là một người con ưu tú của văn hoá Thăng Long dưới triều đại Trần. Ông xứng đáng được xếp vào hàng danh nhân tôn vinh ở Văn miếu Quốc tử giám như nhà Trần đã từng “liệt hạng” xưa kia dù chẳng có mảnh bằng nào thông qua thi cử. Điều đó cũng nói lên rằng triều đại Trần có sức năng động lớn, biết chọn lọc, nuôi dưỡng và phát triển nhân tài, nhà Trần đã biết cách làm cho mình trở thành bất tử.

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 10,Ngữ Văn 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button