Lớp 10Ngữ Văn

Thuyết minh đoạn 1 Bình Ngô đại cáo – Văn mẫu 10 hay nhất

Tuyển chọn những bài văn hay Thuyết minh đoạn 1 Bình Ngô đại cáo. Với những bài văn mẫu đặc sắc, chi tiết dưới đây, các em sẽ có thêm nhiều tài liệu hữu ích phục vụ cho việc học môn văn. Cùng tham khảo nhé! 

Thuyết minh đoạn 1 Bình Ngô đại cáo – Bài mẫu 1

   Văn học trung đại là một trong những thời kỳ văn học lớn nhất nước ta. Nhắc đến văn học thời kỳ ấy, không thể không nhắc tới “Bình Ngô Đại Cáo” của nhà văn chính luận kiệt xuất Nguyễn Trãi. Bài cáo đã ghi dấu trong lòng dân tộc rất nhiều giá trị sâu sắc về tình yêu nước và chủ quyền dân tộc. Đặc biệt là hai đoạn mở đầu bài cáo.

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Ai bảo thần nhân chịu được?”

Bạn đang xem: Thuyết minh đoạn 1 Bình Ngô đại cáo – Văn mẫu 10 hay nhất

     “Bình Ngô Đại Cáo” là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Trãi, được viết vào năm 1428. Mục đích để bố cáo với thiên hạ về nền độc lập tự cường và chủ quyền dân tộc. Hai đoạn đầu thuộc phần mở đầu của bài cáo. Đoạn đầu nêu lên tư tưởng nhân nghĩa cao đẹp, lòng tự tôn dân tộc sâu sắc (Từ “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”…”Chứng cớ còn ghi”). Đoạn 2 vạch trần và lên án tội ác của giặc Minh xâm lược (“Nhân họ Hồ chính sự phiền hà”…”Ai bảo thần nhân chịu được”)

     Về nội dung, trước tiên tác giả khẳng định tư tưởng nhân nghĩa sáng ngời đồng thời cũng là mục đích của cuộc khởi nghĩa:

“Từng nghe
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

     “Nhân nghĩa” là mối quan hệ được xây dựng trên cơ sở tình yêu thương và đạo đức giữa người với người. Nhân nghĩa là những hành động đúng với luân thường đạo lý, tôn trọng lẽ phải, vì lợi ích cộng đồng. Trưởng thành trong thời đại chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên Nguyễn Trãi cho rằng “nhân nghĩa” là “yên dân” – làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc và “trừ bạo”. Đặt trong hoàn cảnh của đất nước bấy giờ “nhân nghĩa” chính là diệt trừ giặc Minh xâm lược. Nhân nghĩa ở đây đã được nâng lên thành mối quan hệ giữa dân tộc với dân tộc. Từ đó, Nguyễn Trãi xác lập luận đề chính nghĩa cho cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta.

     Ông đanh thép khẳng định chủ quyền dân tộc bằng những dẫn chứng vô cùng xác thực:

“Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có”

     Chủ quyền dân tộc được khẳng định trên nhiều phương diện khác nhau, bao gồm văn hiến, địa phận, phong tục, nhà nước, nhân tài. Tất cả đều đã trải dài theo lịch sử hình thành và phát triển của nước ta, mang dấu ấn riêng thuộc về dân tộc ta. Tác giả liệt kê lần lượt các triều đại của nước Đại Việt, đặt song song với các triều đại Trung Hoa, khẳng định vị thế ngang hàng của hai dân tộc. Trung Hoa có “Hán, Đường, Tống, Nguyên”, Đại Việt cũng có “Triệu, Đinh, Lý, Trần”. Các triều đại phương Bắc hưng thịnh, các triều đại nước ta cũng vô cùng hùng mạnh.

    Không những thế, Nguyễn Trãi còn xưng đế, thể hiện lòng tự tôn dân tộc vô cùng mãnh liệt, khẳng định sự bình đẳng của Đại Việt và Trung Hoa. Hai dân tộc, mạnh yếu từng thời kỳ khác nhau. Nhưng hào kiệt thì thời nào cũng có. Họ là nhân tài, là những người anh hùng đã đi vào lịch sử, sống và cống hiến hết mình để bảo vệ, xây dựng non sông.

    Dân tộc ta không thua kém bất cứ ai, lịch sử vẫn còn lưu những thất bại nhục nhã thảm hại của kẻ thù khi xâm lược nước ta:

“Lưu Cung tham công nên thất bại,
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong.
Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô,
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.
Việc xưa xem xét,
Chứng cớ còn ghi”

     Tác giả liệt kê một loạt những tên tướng giặc bại trận trong lịch sử: Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã. Bởi “tham công” tiến hành những cuộc chiến phi nghĩa, chúng đã phải nhận lấy thất bại ê chề.

     Những địa danh lịch sử đi liền với những chiến công vĩ đại của dân tộc vẫn còn lưu danh muôn đời trong sử sách. Đó là sông bạch Đằng với chiến thắng 3 vạn quân Nam Hán, chấm dứt xóa 1 ngàn năm đô hộ nước ta của ngoại xâm phương Bắc. Là cửa Hàm Tử ghi dấu chiến công oanh liệt của quân dân nhà Trần. Tất cả không thể chối cãi.

     Bên cạnh việc xây dựng nội dung sâu sắc, đoạn đầu bài cáo cũng rất thành công về nghệ thuật. Tác giả đã sử dụng những lí lẽ sắc bén, lập luận chặt chẽ. Kết hợp cùng thủ pháp phóng đại, những dẫn chứng xác thực và câu hỏi tu từ cuối đoạn khéo léo. Giọng điệu linh hoạt, khi đanh thép hùng hồn, khi đồng cảm xót thương. Qua đó, Nguyễn Trãi đã nêu ra tiền đề nhân nghĩa của cuộc kháng chiến, khẳng định chủ quyền dân tộc. Đồng thời vạch trần âm mưu, lên án tội ác của giặc Minh, thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc.

    Đoạn mở đầu đã góp phần không nhỏ làm lên áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô Đại Cáo”, khẳng định tài năng và tấm lòng của Nguyễn Trãi. Mỗi tác phẩm văn học đều soi bóng thời đại mà nó ra đời. “Bình Ngô Đại Cáo” từ đó đã tái hiện cho rất nhiều thế hệ mai sau lịch sử hào hùng bi tráng của dân tộc.

Thuyết minh đoạn 1 Bình Ngô đại cáo – Bài mẫu 2

     Trong dòng văn học ca ngợi truyền thống yêu nước xuyên suốt lịch sử văn học Việt Nam, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được đánh giá là áng “thiên cổ hùng văn”, là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của dân tộc, được các thế hệ người Việt luôn yêu thích, tự hào.

    “Bình Ngô đại cáo” được Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi viết vào khoảng đầu năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống Minh xâm lược của nghĩa quân Lam Sơn đã thắng lợi, quân Minh buộc phải ký hòa ước, rút quân về nước, nước ta bảo toàn được nền độc lập tự chủ, hòa bình. Nguyễn Trãi -62 là một anh hùng dân tộc, là người toàn tài hiếm có trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Ông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh đồng thời cũng là nhà thơ trữ tình sâu sắc, nhà văn chính luận kiệt xuất, là cây đại thụ đầu tiên của văn học trung đại Việt Nam.

    Tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” được Nguyễn Trãi viết theo thể cáo, một thể văn có nguồn gốc từ Trung Hoa, viết bằng chữ Hán, thuộc thể văn hùng biện chính luận, có nội dung thông báo một chính sách, một sự kiện trọng đại liên quan đến quốc gia dân tộc, công báo trước toàn dân. Nhan đề tác phẩm có ‎ ý nghĩa là bài cáo trọng đại tuyên bố về việc dẹp yên giặc Ngô-một tên gọi hàm ý khinh bỉ căm thù giặc Minh xâm lược. Bài cáo có bố cục chặt chẽ mạch lạc, viết theo lối biền ngẫu, vận dụng thể tứ lục, sử dụng hệ thống hình tượng sinh động, gợi cảm.

    Bài cáo gồm bốn đoạn. Đoạn đầu nêu cao luận đề chính nghĩa của cuộc kháng chiến, đó là tư tưởng nhân nghĩa kết hợp với độc lập dân tộc: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân-Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” và “Như nước Đại Việt ta từ trước-Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”.

   Bài cáo có sự kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa yếu tố chính luận sắc bén với yếu tố văn chương truyền cảm, kết hợp giữa lí luận chặt chẽ và hình tượng nghệ thuật sinh động. Cảm hứng nổi bật xuyên suốt tác phẩm là cảm hứng anh hùng ca hào hùng sôi nổi, mãnh liệt. Giọng điệu của bài cáo rất đa dạng, khi tự hào về truyền thống văn hóa, anh hùng lâu đời của dân tộc, khi thì căm phẫn sục sôi trước tội ác của kẻ thù, khi thống thiết xót thương trước nỗi đau lầm than của nhân dân, khi lo lắng trước những khó khăn của cuộc kháng chiến, khi hào hùng ngợi ca chiến thắng, khi trịnh trọng tuyên bố độc lập của dân tộc, đất nước.

    “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi là bản anh hùng ca ca ngợi chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta thế kỉ XV. Tác phẩm vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị văn học, không chỉ lưu giữ những sự kiện lịch sử mà còn lưu truyền lòng yêu nước tự hào dân tộc đến các thế hệ người Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam ngày nay đều hào sảng trước những câu văn hùng hồn:

“Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có…”

Thuyết minh đoạn 1 Bình Ngô đại cáo – Bài mẫu 3

     Tác giả Nguyễn Trãi sinh năm 1380 quê ở Chí Linh, Hải Dương là bậc kì tài về chính trị, quân sự, văn học từng theo Lê Thái Tổ đánh đuổi giặc Minh lập nhiều công lao cho nước nhà. Về sự nghiệp văn chương ông có nhiều tác phẩm lớn như Bình Ngô Đại Cáo, Quân Trung Từ Mệnh Tập, Quốc Âm Thi Tập, Ức Trai Tập, trong đó “Bình Ngô Đại Cáo” là một tác phẩm nổi tiếng . Bài cáo không chỉ là sự tuyên bố về thắng lợi của sự nghiệp “Bình Ngô” như mệnh lệnh mà Lê Lợi giao phó. Hơn thế, tác phẩm đã trở thành áng “Thiên cổ hùng văn” muôn đời bất hủ, là bản tuyên ngôn đanh thép, hùng hồn về nền độc lập và vị thế dân tộc. Bài cáo được Nguyễn Trãi viết vào khoảng đầu năm 1428, khi cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược đang thắng lợi, nước ta bảo toàn được nền độc lập, tự chủ, hòa bình. Tác giả viết Bình Ngô đại cáo theo thể cáo- một thể văn có nguồn gốc từ Trung Hoa-viết bằng chữ Hán, thuộc thể văn hùng biện chính luận, có nội dung thông báo một chính sách, một sự kiện trọng đại liên quan đến quốc gia dân tộc, công bố trước toàn dân. Trong đó, cốt lõi là phần đầu tác phẩm với lý tưởng nhân nghĩa được thể hiện rõ ràng:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

     Nhân nghĩa là tư tưởng chủ đạo của Bình Ngô đại cáo, là mục tiêu chiến đấu vô cùng cao cả và thiêng liêngcủa cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Ở đầu bài cáo ta thấy được luận đề chính nghĩa đã nêu ra. Như vậy việc nhân nghĩa của Nguyễn Trãi ở đây là “yên dân” và “trừ bạo”. “Yên dân” chính là giúp dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, như vậy dân có yên thì nước mới ổn định, mới phát triển được. Tác giả đưa vào “yên dân” như để khẳng định đạo lý “lấy dân làm gốc” là quy luật tất yếu trong mọi thời đại- dân là nòng cốt, là tài sản, là sức mạnh, sinh khí của một quốc gia.

     Nguyễn Trãi thật tài tình khi nhận ra và khai sáng thành công vấn đề cốt lõi ấy. Việc nhân nghĩa tiếp theo chính là “trừ bạo”, bạo chính là quân nhà Minh, bọn gian tà chuyên đi hà hiếp nhân dân. Bọn người thẳng tay hành hạ, cướp bóc, vùi dập dân ta trong vực thẳm của sự đau khổ. “Yên dân”, “trừ bạo”, hai việc này tưởng như khác nhau nhưng lại rất liên quan, vì nếu không yên dân tất trừ bạo khó yên, chúng được nhấn mạnh và tiến hành cùng lúc, thống nhất với nhau. Quan tâm đến sự yên ổn, no ấm cho dân cũng đồng nghĩa với việc phải chiến đấu đánh đuổi kẻ thù của dân, diệt trừ những kẻ tham tàn bạo ngược, cụ thể là bọn “cuồng Minh” giày xéo lên cuộc sống nhân dân, gây ra bao tai hoạ.

    Quan niệm nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi không còn là quan niệm đạo đức hạn hẹp mà là một lý tưởng xã hội: phải chăm lo cho nhân dân được sống cuộc hạnh phúc , yên bình .Điều quan trọng hơn là ở đây, Nguyễn Trãi nâng lý tưởng, nỗi niềm ấy lên thành một chân lí. Ông không nói đến nhân nghĩa một cách chung chung mà chỉ bằng một hai câu ngắn gọn tác giả đi vào khẳng định hạt nhân cơ bản, cốt lõi và có giá trị nhất. Không những thế, nhân nghĩa còn gắn liền với việc bảo vệ chủ quyền đất nước, khẳng định chủ quyền quốc gia, tinh thần độc lập dân tộc:

“Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác”
Từ Triệu , Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập
Đến Hán, Đường, Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
Song hào kiệt đời nào cũng có.

      Khi khẳng định chân lí này, Nguyễn Trãi đã đưa ra một quan niệm được đánh giá là đầy đủ nhất lúc bấy giờ về các yếu tố tạo thành một quốc gia độc lập.Nếu như 400 năm trước, trong Nam Quốc Sơn Hà, Lý Thường Kiệt chỉ xác định được hai yếu tố về lãnh thổ và chủ quyền trên ý thức quốc gia cùng độc lập dân tộc thì trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã bổ sung thêm bốn nhân tố nữa, gồm văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán và nhân tài. Và đương nhiên, mỗi quốc gia, dân tộc đều có nét riêng biệt, đặc trưng của họ.

      Cũng như nước ta, nền văn hiến ngàn năm làm sao có thể nhầm lẫn được, cương thổ, núi, sông, đồng ruộng, biển cả đều được chia rõ ràng. Phong tục tập quán cũng như văn hoá mỗi miền Bắc, Nam cũng khác. Ở đây, Nguyễn Trãi nhấn mạnh cả Trung Quốc và Đại Việt đều có những nét riêng không thể nhầm lẫn, thay đổi hay xóa bỏ được. Cùng với đó là từng triều đại riêng nhằm khẳng định chủ quyền. Qua câu thơ, Nguyễn Trãi đã đặt các triều đại “Triệu, Đinh, Lí, Trần” của ta ngang hàng với “ Hán, Đường, Tống, Nguyên” của Trung Quốc , điều đó cho ta thấy, nếu không có một lòng tự hào dân tộc mãnh liệt thì không thể nào có sự so sánh cực kì hay và tinh tế như vậy. Cuối cùng chính là nhân tài, con người cũng là yếu tố quan trọng để khẳng định nền độc lập của chính mình. Tuy thời thế “mạnh, yếu từng lúc khác nhau” song hào kiệt thì đời nào cũng có, câu thơ như lời răn đe đối với những ai, những kẻ nào, nước nào muốn thơn tính Đại Việt.

     Từ năm yếu tố trên, Nguyễn Trãi đã khái quát gần như toàn diện về nền độc lập của một quốc gia. So với “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt, Bình Ngô đại cáo thật sự hay hơn , đầy đủ, toàn diện hơn về nội dung cũng như tư tưởng xuyên suốt. Ngoài ra , để nhấn mạnh tư cách độc lập của nước ta, tác giả còn sử dụng cách viết sánh đôi nước ta và Trung Quốc: về bờ cõi, phong tục- hai nước ngang bằng nhau, về triều đại-bốn triều đại cường thịnh của ta so với bốn triều đại của Trung Quốc cùng nhân tài thời nào cũng có đã chứng tỏ ta không hề thua kém chúng.

     Xuyên suốt đoạn thơ, Nguyễn Trãi đã sử dụng nhiều từ ngữ chỉ tính chất hiển nhiên vốn có khi nêu rõ sự tồn tại của Đại Việt: “từ trước”, “đã lâu” ,“đã chia”, “cũng khác” đã làm tăng sức thuyết phục lên gấp bội. Nghệ thuật thành công nhất của đoạn một – cũng như là bài cáo – chính là thể văn biền ngẫu được nhà thơ khai thác triệt để. Phần còn lại của đoạn đầu là chứng cớ để khẳng định nền độc lập, về các cuộc chiến trước đây với phương Bắc trong lịch sử chúng đều thất bại là chứng cớ khẳng định rõ nhất:

Vậy nên:
Lưu Cung tham công nên thất bại
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong
Cửa HàmTử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã
Việc xưa xem xét
Chứng cứ còn ghi.

     Ở đoạn thơ này, NguyễnTrãi đã cho ta thấy những chiến công oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược, giữ gìn tự do của Tổ quốc. Cách nêu dẫn chứng rõ ràng, cụ thể bằng những lời lẽ chắc chắn, hào hùng, thể hiện niềm tự hào, tự tôn dân tộc. Và cũng chính tại đây ý thức dân tộc của Nguyễn Trãi đã vươn tới một tầm cao mới. Tác giả nêu cụ thể, rõ ràng từng chiến công oanh liệt của quân và dân ta: “ Hàm Tử”, “ Bạch Đằng”,..thêm vào đó là sự xem thường, căm ghét đối với sự thất bại của những kẻ xâm lược không biết tự lượng sức : “Lưu Cung..tham công”, “Triệu Tiết… thích lớn”, Toa Đô, Ô Mã, tất cả chúng đều phải chết thảm. Đoạn thơ đã một lần nữa khẳng định rằng: Đại Việt là một quốc gia có độc lập, tự chủ , có nhân tài, có tướng giỏi, chẳng thua kém gì bất cứ một quốc gia nào. Bất cứ kẻ nào có ý muốn thôn tính, xâm lược ta đều phải chịu kết quả thảm bại. Cuộc chiến chống lại quân giặc, bảo vệ dân tộc là một cuộc chiến vì chính nghĩa, lẽ phải, chứ không như nhiều cuộc chiến tranh phi nghĩa khác, cho nên, dù thế nào đi nữa, chính nghĩa nhất định thắng gian tà. Tất cả những trang sử hào hùng, vẻ vang ấy, đều đã được sử sách ta cẩn thận ghi lại, không thể chối cãi, và không ai có thể thay đổi. Đây cũng chính là tinh anh, tinh hoa trong tư tưởng của nhà thơ.

     Tóm lại, tác phẩm Bình Ngô đại cáo tràn ngập nguồn cảm hứng trữ tình và mang tính chất hào hùng hiếm có. Trong đó, phần đầu tác phẩm, với nghệ thuật biền ngẫu, đã nêu được hai nội dung chính gần như hết bài cáo là nhân nghĩa và nền độc lập của dân tộc Đại Việt. Chính vì vậy, đoạn trích có giá trị rất sâu sắc đối với nước ta, khẳng định nhân dân ta có tinh thần nhân nghĩa và nền độc lập riêng của mình. Đoạn đầu là một sự thành công của Nguyễn Trãi, là mở đầu cho áng văn thiêng cổ “Bình Ngô Đại Cáo”. Đoạn thơ giúp ta hiểu rõ chủ quyền lãnh thổ, độc lập dân tộc cũng như lịch sử đấu tranh hào hùng của cha ông ta ngày trước, qua đó bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào tự tôn dân tộc, quyết tâm xây dựng, bảo vệ và củng cố độc lập chủ quyền nước nhà.

Thuyết minh đoạn 1 Bình Ngô đại cáo – Bài mẫu 4

    Bình Ngô Đại cáo được xem là bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của dân tộc ta. Xuyên suốt tác phẩm là tinh thần yêu nước và nhận thức sâu sắcvề dân tộc và nhân dân. Mở đầu, tác giả đã thể hiện quan điểm, lập trường vô cùng quyết liệt, khí phác khi nói: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo Rõ ràng, đối với bậc đại trượng phu, việc “nhân nghĩa” không còn là khái niệm mơ hồ. Mà nó đã trở thành mục đích cao đẹp, đưa nhân dân thoát khỏi cảnh lầm than, cơ cực. Và việc của “Quân điếu phạt” là chiến đấu vì nhân dân, bảo vệ nhân dân.

     Khí chất khẳng khái, hùng hồn hiện rõ qua câu: “Như nước Đại Việt ta từ trước”. Và khẳng định chắc chắn, không thể chối cãi “ Vốn xưng nền văn hến đã lâu”. Vâng, nước Đại Việt là quốc gia độc lập, có nền văn hiến tự lâu đời. Là quốc gia có phong tụ tập quán riêng biệt, không giống với bất dân tộc nào khác. Và một điều không thể phủ nhận, qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Quốc gia ấy vẫn tồn tại kiêu hãnh bên các triều đại Trung Hoa. Và để minh chứng cho những chiến công lừng lẫy của dân tộc, Nguyễn Trãi đã đưa ra dẫn chứng:

Lưu Cung tham công nên thất bại

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;

Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã

Việc xưa xem xét, chứng cứ còn ghi

     Đoạn 1 của tác phẩm là lời khẳng định đầy sâu sắc, triết lý về đất nước. Qua đó, minh chứng cho các quốc gia khác thấy rằng nước ta là nước nhân nghĩa. Đất nước lấy nhân dân làm trọng với tinh thần yêu nước tồn tại qua ngàn đời.

—/—

Trên đây là các bài văn mẫu Thuyết minh đoạn 1 Bình Ngô đại cáo do THPT Ninh Châu sưu tầm và tổng hợp được, mong rằng với nội dung tham khảo này thì các em sẽ có thể hoàn thiện bài văn của mình tốt nhất!

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 10,Ngữ Văn 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button