Địa LýLớp 12

Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của Biển Đông nước ta thể hiện rõ nhất qua yếu tố hải văn nào?

Câu hỏi: Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của Biển Đông nước ta thể hiện rõ nhất qua yếu tố hải văn nào ?

A. Nhiệt độ nước biển. 

B. Địa hình ven biển

Bạn đang xem: Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của Biển Đông nước ta thể hiện rõ nhất qua yếu tố hải văn nào?

C. Rừng ngập mặn    

D. Các loài sinh vật.

Lời giải:

 Đáp án đúng: A

Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của Biển Đông nước ta thể hiện rõ nhất qua yếu tố hải văn là nhiệt độ nước biển.

 Giải thích:

Tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa của Biển Đông nước ta thể hiện rõ nhất qua yếu tố hải văn là nhiệt độ nước biển, độ muối, sóng, thủy triều, hải lưu.

Cùng THPT Ninh Châu tìm hiểu về nhiệt độ nước biển nhé:

1. Nhiệt độ của nước biển

Nước biển sâu có nhiệt độ khoảng −2 °C (28 °F) đến 5°C (41 °F) trong tất cả các vùng trên toàn cầu.

Nước biển đóng băng ở nhiệt độ khoảng −1.8 °C (28.8 °F). Khi nhiệt độ của nước xuống đủ thấp, các tinh thể băng hình thành trên bề mặt.

 2. Phân bố chung của nhiệt trong biển và đại dương 

Nguồn nhiệt lớn nhất mà hành tinh nhận được là từ mặt trời. Phân bố của bức xạ mặt trời lại không đồng đều trên các khu vực địa đới khác nhau. Theo phương ngang cấu trúc nhiệt trong biển và đại dương mang tính địa lí, địa đới rất lớn. Gần xích đạo nhiệt độ nước biển cao và giảm dần về phía cực.

Ví dụ minh hoạ là nhiệt độ nước mặt biển trên biển Đông giảm dần từ nam lên bắc. Theo phương thẳng đứng , nhiệt độ mặt biển thường dao động mạnh theo nhiệt độ khí quyển do đó chịu ảnh hưởng nhiều của hoàn lưu khí quyển (hoạt động của các loại gió mùa).

Lớp mặt này có nhiệt độ tương đối đồng nhất và có chiều dày từ vài chục đến vài trăm mét tuỳ vào mức độ xáo trộn của biển. Sâu hơn là tầng nước có nhiệt độ thay đổi nhanh theo độ sâu (Lớp đột biến về nhiệt độ hay lớp nêm nhiệt). Cuối cùng là lớp nước sâu của biển có nhiệt độ tương đối ổn định.

3. Phân bố nhiệt độ

Nhiệt độ bề mặt giữa đại dương thay đổi theo vĩ độ để đáp ứng với sự cân bằng giữa các bức xạ mặt trời và bức xạ sóng dài đi . Có sự dư thừa bức xạ mặt trời tới ở vĩ độ nhỏ hơn khoảng 45 ° và sự mất mát bức xạ quá mức ở vĩ độ cao hơn khoảng 45 °. Đặt trên cân bằng bức xạ này là sự thay đổi theo mùa về cường độ bức xạ mặt trời và thời lượng của giờ ban ngày do độ nghiêng của trục Trái đất so với mặt phẳng của hoàng đạo và chuyển động quay của hành tinh quanh trục này. Tác động tổng hợp của các biến này là nhiệt độ bề mặt đại dương trung bình ở vĩ độ thấp cao hơn ở vĩ độ cao. Bởi vì Mặt trời , đối với Trái đất, di chuyển hàng năm giữa chí tuyến và chí tuyến , nên sự thay đổi hàng năm về nhiệt độ bề mặt Trái đất là nhỏ ở vĩ độ thấp và lớn ở vĩ độ trung bình và cao hơn.

Nước có nhiệt dung cực cao , và nhiệt được trộn xuống trong điều kiện làm nóng bề mặt vào mùa hè và tăng lên trong quá trình làm mát bề mặt vào mùa đông. Điều này truyền nhiệt làm giảm sự thay đổi thực tế của nhiệt độ bề mặt đại dương trong chu kỳ hàng năm. Ở vùng nhiệt đới, bề mặt đại dương ấm áp quanh năm, thay đổi theo mùa khoảng 1 đến 2 °C (1,8 đến 3,6 °F). Ở các biên độ trung bình, nhiệt độ giữa đại dương thay đổi khoảng 8 °C (14,4 °F) trong năm. Ở các vĩ độ cực, nhiệt độ bề mặt vẫn gần điểm đóng băng của nước biển, khoảng −1,9 °C (28,6 °F).

4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu nhiệt độ nước biển trong sinh học và sinh thái biển

Nhiệt độ là một trong những đặc trưng vật lí của nước biển  có vai trò rất quan trọng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu. Đặc biệt trong hải dương học, nghiên cứu nhiệt độ, độ muối giúp tính toán mật độ riêng, thể tích riêng, phân chia các khối nước, nghiên cứu sự di chuyển của các khối nước, tính toán dòng chảy mật độ, vận tốc âm v.v… Trong nghiên cứu các hiện tượng thời tiết khí hậu như: hoạt động của gió mùa, dải hội tụ nhiệt đới, bão, El Nino, La Nina… Và trong sinh học sinh thái biển nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ tới đời sống sinh vật trong biển.

Khoảng nhiệt tồn tại trên hành tinh là 1000 0C, song sự sống chỉ có mặt ở dãy nhiệt từ âm 200 0C đến 100 0C. Đa số các loài chỉ sống được trong giới hạn hẹp của nhiệt độ, khoảng từ 0 0C đến 50 0C. Một số vi sinh vật và một số loài tảo ở suối nước nóng chịu được nhiệt độ 88 0C và 800C tương ứng. Một vài loài côn trùng và cá bống sống ở suối nước nóng có nhiệt độ khoảng 52 0C.

Nhiệt độ trong môi trường nước thường thấp hơn ở môi trường không khí và ổn định hơn, do đó những loài thuỷ sinh vật nói chung đều là những loài hẹp nhiệt, chúng có thể tồn tại trong một khoảng nhiệt độ nào đấy (gọi là khoảng nhiệt tồn tại), song chúng chỉ có thể phát triển được trong khoảng nhiệt độ thích hợp (gọi là khoảng nhiệt phát triển) và phát triển tốt nhất ở khoảng nhiệt độ tối ưu (khoảng nhiệt cực thuận).  Đại bộ phận thuỷ sinh vật là những loài biến nhiệt (trừ các loài chim, thú sống ở nước). Do vậy, mọi quá trình hô hấp, trao đổi chất, sinh trưởng, phát triển… của chúng phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường và có những giới hạn về nhiệt độ rất đặc trưng.

Nhiệt độ cũng quyết định sự phân bố của các loài sinh vật trong biển. Hiện nay nhiều nghiên cứu về mối liên hệ giữa nhiệt độ và sự phân bố, di chuyển của một số loài cá giúp cho công việc đánh bắt khai thác hải sản có hiệu quả hơn. Có sự phân bố khác nhau về nhiệt độ trong nước biển do nhiều nguyên nhân như sự khác nhau về địa lý (vĩ độ), khí hậu (ngày đêm, mùa trong năm), do sự khác nhau về mức độ xáo trộn, khả năng truyền nhiệt (giữa các lớp nước, khối nước).v.v…Do đó cũng có sự phân bố rất đặc trưng của các loài sinh vật, loài ưa lạnh, loài ưa ấm, loài rộng nhiệt.

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 12, Địa Lý 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button