Lớp 12Ngữ Văn

Tóm tắt tiểu sử nhà thơ Tố Hữu

Câu hỏi: Tóm tắt tiểu sử nhà thơ Tố Hữu

Trả lời:

1. Cuộc đời, gia đình Tố Hữu

Bạn đang xem: Tóm tắt tiểu sử nhà thơ Tố Hữu

Tố Hữu có tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, ông sinh năm 1920 và mất năm 2002. Ông sinh ra tại Hội An, Quảng Nam nhưng quê gốc lại ở xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Ngoài là một nhà thơ tiêu biểu, Tố Hữu còn được biết đến là một nhà chính trị gia xuất sắc.

Ông đã từng đảm nhiệm rất nhiều cương vị trọng yếu trong bộ máy nhà nước như: Phó Tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam (1948), Bí thư Ban chấp hành Trung ương, Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương (1976), Ủy viên chính thức Bộ Chính trị (1980), Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1981), Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cùng rất nhiều chức vụ quan trọng khác.

Tố Hữu lớn trong một nhà gia đình nhà nho nghèo có truyền thống văn chương. Chỉ mới 8 tuổi, ông đã biết làm thơ Đường khiên ai cũng nể phục. Năm ông lên 12 tuổi thì mẹ mất, 1 năm sau đó ông tham gia học tập tại trường Quốc học Huế, bắt đầu từ đây ông đã tiếp cận với lý tưởng cộng sản và sớm giác ngộ cách mạng.

2. Hoạt động cách mạng

Năm 1936, Tố Hữu gia nhập Đoàn thanh niên Dân chủ Đông Dương, hăng say hoạt động cách mạng và đã được kết nạp vào đảng 2 năm sau đó. Tháng 4/1939, ông không may bị thực dân Pháp bắt giam và bị tra tấn vô cùng dã man.

Trong quá trình bị bắt, ông bị đày đi rất nhiều nhà lao từ Huế sang Quảng Trị rồi rất nhiều nhà lao khác ở Tây Nguyên. Khó khăn chồng chất khó khăn, tuy nhiên ông vẫn không lùi bước, luôn giữ vững tinh thần yêu nước và hoạt động cách mạng ở mọi hoàn cảnh

Tháng 3/1942, ông vượt ngục thành công tại Đắc Lay – Kon Tum và tìm đường ra Thanh Hóa để tiếp tục hoạt động bí mật. Năm 1947, ông chuyển lên Việt Bắc công tác, từ đó trở đi ông được tin tưởng và giao nắm giữ rất nhiều chức vụ quan trọng trong Ban văn nghệ cũng như trong bộ máy Nhà nước.

3. Quan điểm sáng tác

Nổi tiếng là nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam, Tố Hữu luôn đem đến cho bạn đọc nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau khi đọc thơ của ông. Những bài thơ ấy luôn gắn bó với các giai đoạn cách mạng của Việt Nam.

Có thể nói được sinh ra lớn lên trong hoàn cảnh đất nước trong cảnh khó khăn, Tố Hữu ý thức được trách nhiệm của một người công dân với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam lúc bấy giờ. Trải qua rất nhiều gian truân, cảnh bị tù đày đầy đau khổ thế nhưng tinh thần yêu nước trong lòng ông vẫn chưa từng dập tắt thế nên những bài thơ của ông luôn chan chứa tình yêu quê hương đất nước.

Tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu có bài thơ Từ ấy. Bài thơ thể hiện lý tưởng cách mạng sâu sắc của người thanh niên trẻ Tố Hữu vì một lý tưởng cao đẹp, anh nguyện cống hiến một đời cho sự nghiệp cách mạng của Đất nước. Ở thời điểm lúc bấy giờ bài thơ không chỉ là nỗi niềm của Tố Hữu mà còn truyền cảm hứng đến rất nhiều người với tình yêu quê hương đất nước.

Với sáng tác thơ ca, Tố Hữu luôn đặt lý tưởng cách mạng lên đầu tiên. Có thể kể đến bài thơ Việt Bắc – bài thơ được ra đời trong cuộc chia tay đặc biệt giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ kháng chiến năm 1954. Việt Bắc không đơn giản chỉ là tên của một địa danh mà còn là cơ quan đầu não trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Hiểu được nỗi trăn trở của nhân dân khi đất nước đang đứng trước cuộc chiến tranh khốc liệt tác phẩm Việt Bắc xuất hiện đã thể hiện xuất sắc cảm xúc của người ra đi và người ở lại.

Quan điểm của Tố Hữu về thơ ca: “Muốn có thơ hay, trước hết, phải tạo lấy tình. Nhà thơ chân chính phải không ngừng phấn đấu, tu dưỡng về lập trường tư tưởng; xác định thật rõ ràng tầm nhìn, cách nhìn. Tự nguyện gắn bó chân thành là yêu cầu cao nhất đối với người nghệ sĩ trong quan hệ với đất nước, với nhân dân. Ngoài ra, các nhà thơ Cách mạng còn phải kiên quyết đấu tranh, không khoan nhượng trước những biểu hiện lệch lạc, với cái xấu cái ác. Tóm lại, viết thơ phải xứng đáng là người chiến sĩ xung kích trên mặt trận văn hóa tư tưởng.”

4. Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu

Tố Hữu là nhà thơ của lí tưởng cộng sản, thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị: Tố Hữu là một chiến sĩ – thi sĩ. Với ông, làm thơ trước hết là để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng, cho lí tưởng của Đảng. Mọi sự kiện, vấn đề lớn của đời sống cách mạng, lí tưởng chính trị, những tình cảm chính trị thông qua trái tim nhạy cảm của nhà thơ đều có thể trở thành đề tài và cảm hứng nghệ thuật thực sự.

Nội dung trữ tình chính trị trong thơ Tố Hữu thường tìm đến và gắn liền với khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn. Cảm hứng chủ đạo trong thơ Tố Hữu là cảm hứng lãng mạn. Thơ Tố Hữu hướng vào tương lai, khơi dậy niềm vui, lòng tin tưởng và niềm say mê với con đường cách mạng, ngợi ca nghĩa tình cách mạng và con người cách mạng.

Một nét đặc sắc của thơ Tố Hữu là có giọng điệu tâm tình, ngọt ngào tha thiết, kết tục truyền thống tốt đẹp của thơ ca Việt Nam qua nhiều thời đại; gắn bó với vận mệnh của đất nước, phục vụ cho cuộc đấu tranh giành độc lập và tự do của dân tộc.

5. Một số tác phẩm tiêu biểu

Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Hoa và máu, Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật, Ta với ta, Nhớ lại một thời, Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, thời đại ta,…

6. Giải thưởng của Tố Hữu

Giải nhất giải thưởng Văn học hội Văn nghệ Việt Nam (1954 – 1955) tập thơ Việt Bắc

Giải thưởng Văn học ASEAN của Thái Lan năm 1996 cho tập thơ Một tiếng đờn

Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật ( đợt 1, 1996)

Huân chương sao vàng 1994 cùng một số giải thương danh giá khác,…

7. Những nhà văn khác nói gì về Tố Hữu?

– Thời đại ta đã may mắn có được nhà thơ Tố Hữu (Hoài Thanh)

– Việt Bắc là đỉnh thơ cao nhất mà Tố Hữu đã bước lên (Xuân Diệu)

– Với Tố Hữu, thơ là vũ khí đấu tranh cách mạng. Ðó chính là đặc sắc và cũng là bí quyết độc đáo của Tố Hữu trong thơ ca (Đặng Thai Mai – Lời giới thiệu tập thơ Từ ấy).

– Thơ là đi giữa nhạc và ý. Rơi vào cái vực ý, thì thơ sẽ sâu, nhưng rất dễ khô khan. Rơi vào cái vực nhạc, thì thơ dễ làm đắm say người, nhưng cũng dễ nông cạn. Tố Hữu đã giữ được thế quân bình giữa hai vực thu hút ấy. Thơ của anh vừa ru người trong nhạc, vừa thức người bằng ý. (Chế Lan Viên – Lời nói đầu tuyển tập thơ Tố Hữu).

– Tố Hữu không tô vẽ lên nhân vật quần chúng những nét sơn hào nhoáng, giả tạo. Tình cảm của nhân vật thơ anh biểu hiện lên từ bản chất giai cấp, từ đời sống thực.Người bộ đội chiếm một địa vị quan trọng trong tập thơ Việt Bắc, chính là người nông dân nghèo khổ. (Hoàng Trung Thông – Chặng đường mới của chúng ta, 1961)

→ Đề tài thường được Tố Hữu khai thác trong thơ ca của mình luôn là những chủ đề hướng về tình yêu đất nước nồng nàn. Cho đến ngày hôm nay thì những áng thơ ấy vẫn để lại nhiều dấu ấn trong tim bạn đọc.

Ngoài ra, cùng THPT Ninh Châu tham khảo bài văn về tính dân tộc qua bài thơ Việt Bắc để làm rõ phong cách thơ của Tố Hữu nhé

Tính dân tộc được thể hiện sâu sắc qua bài thơ Việt Bắc

Bài làm

Tố Hữu là đỉnh cao của thơ trữ tình – chính trị, mang đậm khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn và màu sắc dân tộc. Và có thể nói “Việt Bắc” – khúc hát ân tình của con người kháng chiến với quê hương đất nước, với nhân dân và cách mạng là một trong số những tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu. Đọc “Việt Bắc” chúng ta sẽ thấy rõ những biểu hiện của tính dân tộc. 

Trước hơn hết, tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu được thể hiện ở mặt nội dung bởi lẽ bài thơ đã tái hiện một cách chân thực, sâu sắc, đậm đà tính dân tộc ở cảnh sắc, phong cảnh quê hương, đất nước và những nét đẹp truyền thống của con người Việt Nam. Bài thơ “Việt Bc” đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên đậm đà tính dân tộc, mang bản sắc riêng của thiên nhiên đất nước Việt Nam qua bức tranh tứ bình. Đó là cảnh sắc mùa đông với sắc đỏ của những bông hoa chuối rừng:

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Có lẽ chỉ với một câu thơ thôi nhưng tác giả đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên Tây Bắc mùa đông thật sinh động. Trên cái nền xanh bạt ngàn, vô tận của cây rừng, ngời lên sức sống mãnh liệt chính là sắc đỏ điểm xuyết của những bông hoa chuối. Sắc xanh và sắc đỏ quyện hòa vào nhau như làm cho bức tranh càng thêm sinh động, ấm áp.

Tóm tắt tiểu sử nhà thơ Tố Hữu chi tiết nhất (ảnh 2)

Đó là bức tranh xuân với những hương, những sắc đậm sắc thái của núi rừng Tây Bắc:

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Dường như trong những ngày mùa xuân, cả một rừng mơ bung nở sắc trắng tinh khôi, trẻ trung và mơ mộng. Sắc trắng ấy trong những ngày xuân cũng chính là vẻ đẹp viên mãn, tràn đầy sức sống và đặc trưng cho mảnh đất nơi đây.

Và nếu như sắc trắng làm nên nét đẹp của mùa xuân thì âm thanh của tiếng ve, sắc vàng chính là những nét đẹp riêng mỗi độ hè về:

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Thiên nhiên ở đây được vẽ, được cảm nhận bằng cả màu sắc và âm thanh – màu vàng của rừng phách, của nắng hè và âm thanh của tiếng ve. Tất cả những điều đó dường như đang cộng hưởng, quyện hòa vào nhau. Chữ “đổ” được tác giả sử dụng thật độc đáo và giàu giá trị, nó gợi sự căng tràn, ăm ắp của nguồn sống, gợi lên cả bước chuyển của thời gian. 

Để rồi, kết thúc bức tranh tứ bình ấy chính là bức tranh mùa thu đẹp đẽ, êm đềm, mơ mộng với ánh trăng vàng – ánh trăng hòa bình đang chiếu rọi khắp núi rừng.

Mùa thu trăng rọi hòa bình.

Không chỉ tái hiện bức tranh thiên nhiên đậm đà bản sắc dân tộc mà “Việt Bắc” còn vẽ nên hình ảnh những con người Việt Nam với những vẻ đẹp truyền thống từ ngàn đời. Đó là những con người vất vả, lam lũ, chịu thương, chịu khó. Chắc hẳn, đọc bài thơ “Việt Bắc” người đọc sẽ không thể nào quên được hình ảnh những “người mẹ nắng cháy lưng, địu con lên rẫy” và cả những con người suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, vẫn luôn miệt mài với công việc, mỗi mùa mỗi việc, khi thì “dao gài thắt lưng”, xuân về họ lại cẩn mẫn, tỉ mỉ “đan nón chuốt từng sợi giang” và khi hè đến họ lại lên núi hái măng. Thêm vào đó, những con người trong bài thơ là những con người thủy chung, tình nghĩa, luôn đồng cam, cộng khổ và san sẻ cùng nhau. Vẻ đẹp ấy của họ thể hiện rõ nét qua “câu hát ân tình”, qua hình ảnh san sẻ cùng nhau trong những năm tháng kháng chiến khó khăn, thiếu thốn:

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng.

Và cuối cùng, tính dân tộc ở phương diện nội dung được thể hiện ở tình nghĩa của cán bộ  và đồng bào Việt Bắc với cách mạng và kháng chiến – đó cũng chính là mạch cảm xúc xuyên suốt toàn bộ bài thơ.

Cùng với nội dung, tính dân tộc của bài thơ còn được thể hiện rõ nét ở hình thức nghệ thuật. Trước hết, bài thơ được viết theo thể thơ lục bát – một thể thơ truyền thống của dân tộc, điều này đã tạo nên âm hưởng vừa thống nhất vừa biến hóa cho bài thơ, làm cho câu thơ lúc thì dung dị, dân dã, gần với ca dao, lúc lại cân xứng, trau chuốt đến độ nhuần nhị, cổ điển. Đồng thời, bài thơ cũng được viết theo lối kết cấu đối đáp quen thuộc của văn học dân gian với cặp đại từ “mình” – “ta” để ướm hỏi, trả lời, làm cho mạch cảm xúc và sự phát triển của chủ đề bài thơ cũng trên cơ sở ấy. Đặc biệt, tính dân tộc trong hình thức nghệ thuật của bài thơ được thể hiện rõ nét ở ngôn ngữ. Trong bài thơ, tác giả đã rất tài tình khi sử dụng lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân để tái hiện lại cuộc kháng chiến và những con người kháng chiến cũng như vẽ nên khung cảnh về một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn. Đồng thời, ngôn ngữ trong bài thơ rất giàu hình ảnh và nhạc điệu – “người mẹ nắng cháy lưng”, “rừng che bộ đội rừng vây quân thù”, “chày êm nện cối đều đều suối xa”,… Và đặc biệt, tác giả đã sử dụng cặp đại từ nhân xưng “mình” – “ta” biến hóa linh hoạt với những lối biểu cảm, ngữ nghĩa phong phú vốn có của nó. 

Tóm lại, bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu mang tính dân tộc đậm đà, điều đó thể hiện rõ nét trên cả nội dung và hình thức nghệ thuật của bài thơ.

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button