Lớp 11Ngữ Văn

Top 6 dàn ý Phân tích Lưu biệt khi xuất dương

Tham khảo Top 6 dàn ý Phân tích Lưu biệt khi xuất dương ngắn gọn, chi tiết, hay nhất. Qua các dàn ý sau đây sẽ giúp các bạn nắm được những ý chính và cách triển khai các luận điểm nhằm hoàn thiện bài viết một cách hoàn chỉnh nhất. Mời các bạn cùng tham khảo!

Dàn ý Phân tích Lưu biệt khi xuất dương – Mẫu số 1

A. Mở bài

– Giới thiệu tác giả Phan Bội Châu

Bạn đang xem: Top 6 dàn ý Phân tích Lưu biệt khi xuất dương

– Giới thiệu chung về tác phẩm Lưu biệt khi xuất dương

B. Thân bài

a. Hai câu đề:Quan niệm mới về chí làm trai

“Sinh vi nam tử yếu hi kì”

– Làm trai phải mong có sự lạ “hi kì”: phải có lí tưởng sống, lẽ sống lớn lao, cao đẹp, dám mưu đồ những việc phi thường hiển hách. Không chấp nhận sự nhợt nhạt, tầm thường.

“Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di”

– Không để trời đất tự xoay vần cuộc đời mình, con người phải tự tạo ra cuộc đời, thời thế của mình, giành lấy thế chủ động để tự quyết định số phận của mình. Giọng điệu tự tin, táo bạo của một con người khẩu khí

=> Tư thế, một tâm thế đẹp về chí nam nhi phải tin tưởng ở mức độ và tài năng của mình => Tuyên ngôn về chí làm trai.

b. Hai câu thực: Khẳng định ý thức trách nhiệm của cá nhân trước thời cuộc

“Ư bách niên trung tu hữu ngã”

– “Bách niên”: trăm năm là khoảng thời gian ước lệ nói về cuộc đời của mỗi con người, cũng có ý chỉ thế kỉ nhiều biến động.

– “Tu hữu ngã”: phải có ta. Tác giả tự xưng bản thân mình là “ta” một cách ngạo nghễ.

=> Ý thức trách nhiệm của cái tôi cá nhân trước thời cuộc, ý thức rõ vai trò, tầm quan trọng của cá nhân đối với vận mệnh trăm năm. Điều này đối lập với sự tự cao cá nhân.

“Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”

– “Cánh vô thùy” (há không ai): câu hỏi hướng đến thế hệ tiếp nối sau này, đặc biệt là thế hệ thanh niên đang mang tâm lí hoang mang, bế tắc. Phan Bội Châu là người sớm giác ngộ cách mạng, người yêu nước điển hình, ông có đủ dung khí để đi theo con đường mình đã chọn. Ông lo lắng không biết thế hệ sau có nhận thức được như mình hay không?

=> Câu thơ mang mục đích tuyên truyền, cổ vũ cách mạng.

c. Hai câu luận: Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất nước

“Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế”

– Tác giả nhận thức về thực trạng của đất nước “giang sơn tử hĩ” (non sông đã chết), đất nước đã chết, rơi vào tay kẻ khác, chỉ còn là “cái xác không hồn”

=> Tác gỉa trực tiếp bộc lộ cảm xúc của mình “sinh đồ nhuế” (sống thêm nhục). Đây chính là biểu hiện của lòng yêu nước.

Liên hệ: Quan niệm về lẽ nhục vinh trong văn học trung đại

Trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nguyễn Đình Chiểu đã viết: “Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; còn hơn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”

=> Phan Bội Châu thể hiện thái độ không cam chịu khi nhận thức được nỗi nhục mất nước:

“Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”

– Phan Bội Châu phủ nhận nền học vấn nho học, nhận ra con đường khoa cử là vô ích. Người cách mạng cảm nhận sự tồn vong của mình trong mối quan hệ trực tiếp với sự tồn vong của dân tộc => hành động cởi mở, luôn tiếp thu những tư tưởng mới mẻ, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đối lập với quan điểm cứu nước trì trệ, lạc hậu của các nhà Nho đương thời.

Liên hệ: Nguyễn Khuyến cũng từng đặt câu hỏi “Sách vở ích gì thời buổi ấy”

d. Hai câu kết: Khát vọng hành động, tư thế buổi lên đường

         “Nguyện trục trường phong Đông hải khứ

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”

– Tác giả dựng bối cảnh kì vĩ, hiện lên qua hình ảnh thơ “trường phong” (ngọn gió dài), “thiên trùng bạch lãng” (ngàn đợt sóng bạc)

=> Từ hình ảnh đó làm nổi bật lên tư thế của con người đầy lẫm liệt, oai phong “nhất tề phi” (cùng bay lên), một tư thế của con người đang vượt lên hiện thực đầy tăm tối của thời cuộc, tư thế sánh ngang vũ trụ của con người.

=> Thể hiện khát vọng hành động: ra đi tìm đường cứu nước

C. Kết bài

– Khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của tác phẩm

Dàn ý Phân tích Lưu biệt khi xuất dương – Mẫu số 2

A. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả Phan Bội Châu và tác phẩm Lưu biệt khi xuất dương.

Ví dụ:

    Phan Bội Châu là một nhà thơ lớn đã sáng tác rất nhiều bài thơ nổi tiếng. Ông được biết đến là một người thông minh, tài hoa, thương dân và có tư tưởng yêu nước rất tiến bộ. Chính bởi những điều đó nên các tác phẩm thơ của ông, những tác phẩm thơ của ông cũng bị ảnh hưởng tư tưởng mới mẻ đó, những tác phẩm nói lên những tư tưởng tiến bộ mà ông tiếp thu và hiểu được từ các nền văn hóa mới. Một tác phẩm nói về tư tưởng tiến bộ của ông là Lưu biệt khi xuất dương, nói về chí làm trai và mong muốn của Phan Bội Châu ra đi là để trở về đóng góp cho đất nước.

B. Thân bài: Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dươngcủa Phan Bội Châu

1. Quan niệm làm trai của Phan Bội Châu

+ Tư thế, tầm vóc của con người ngang tầm vũ trụ

+ Có ý nghĩ về hành động cao đẹp, muốn xoay chuyển trời đâts

+ Ý tưởng mãnh liệt, muốn cống hiến cho đất nước

2. Trách nhiệm của nhà thơ qua cái tôi của nhà thơ

+ Khát vọng về cống hiến

+ Muốn cống hiến vì dân, vì nước

+ Cái tôi cá nhân của tác giả được đề cao, dược khẳng định

3. Thực tại đất nước và thái độ của tác giả trước thực tại ấy

+ Nỗi nhục mất nước được tác giả cảm nhận sâu sắc

+ Dự cảm con đường cứu nước của tác giả

+ Con đường cứu nước bằng tư tưởng tiến bộ, tiên phong, vượt bậc thời đại

4. Tư thế lên đường của nhà thơ

+ Tư thế của con người rất hăm hở, hào hùng

+ Tâm hồn cao đẹp và khát vọng hoài bão

C. Kết bài: Nêu cảm nhận của em về bài thơ Lưu biệt khi xuất dương

Ví dụ:

    Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu nói về ý chí làm trai và mong muốn cống hiến sức trai, sức trẻ cho đất nước, cho nhân dân để mang lại độc lập tự do cho dân tộc.

Dàn ý Phân tích Lưu biệt khi xuất dương – Mẫu số 3

A. Mở bài

– Trình bày khái quát những nét chủ yếu nhất về cuộc đời và sự nghiệp Phan Bội Châu: Đôi nét về cuộc đời hoạt động cách mạng và sự nghiệp văn chương…

– Giới thiệu khái quát nội dung và nhấn mạnh tầm quan trọng của bài thơ Lưu biệt khi xuất dương: Bài thơ ấy là tiêu biểu cho tinh thần yêu nước của chính tác giả.

B. Thân bài

– Phân tích hai câu thơ đầu (hai câu đề): Quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu

    + Tác giả nêu lên quan niệm mới: là đấng nam nhi phải sống với khát vọng, mong muốn làm nên điều kì lạ : “ yếu hi kì”, không cam chịu để cho trời đất xoay chuyển mình.

⇒ Tư thế, một tâm thế đẹp về chí nam nhi phải tin tưởng ở mức độ và tài năng của mình ⇒ Tuyên ngôn về chí làm trai.

– Hai câu thực: Khẳng định ý thức trách nhiệm của cá nhân trước thời cuộc

    + Câu 3: “Tu hữu ngã” (phải có trong cuộc đời) → ý thức trách nhiệm của cái tôi cá nhân trước thời cuộc, ý thức rõ vai trò, tầm quan trọng của cá nhân đối với vận mệnh trăm năm. Điều này đối lập với sự tự cao cá nhân.

    + Câu 4: Tác giả lại chuyển giọng nghi vấn “cánh vô thuỳ” (há không ai?) ⇒ khẳng định cương quyết hơn khát vọng sống hiển hách, phi thường, phát huy hết tài năng trí tuệ dâng hiến cho đời.

→ Ý thức sâu sắc thể hiện vai trò cá nhân trong lịch sử: sẵn sàng gánh vác mọi trách nhiệm mà lịch sử giao phó.

– Hai câu luận : Quan niệm về nguyên tắc hành xử mới của Phan Bội Châu trước vận mệnh đất nước

    + Tình cảnh đất nước: “Non sống đã chết”, đất nước đã rơi vào tay giặc

    + Quan niệm mới mẻ, đối lập với các tín điều xưa cũ: ý thức về lẽ vinh nhục gắn với sự tồn vong của đất nước: “sống thêm nhục :

“Hiền thánh còn đâu cũng học hoài”

    + Người cách mạng cảm nhận sự tồn vong của mình trong mối quan hệ trực tiếp với sự tồn vong của dân tộc ⇒ hành động cởi mở, luôn tiếp thu những tư tưởng mới mẻ, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đối lập với quan điểm cứu nước trì trệ, lạc hậu của các nhà Nho đương thời.

– Hai câu kết: Tư thế và khát vọng buổi lên đường

    + Tư thế lên đường của người chí sĩ thật sự hoành tráng:

“Nguyện trục trường phong Đông hải khứ

Tiên trùng bạch lãng nhất tề phi”

    + Những hình tượng kì vĩ được sử dụng: “trường phong”- ngọn gió dài, lớn; “Thiên trùng bạch lãng” (ngàn lớp sóng bạc) ⇒ Tư thế hiên ngang, mong muốn lớn lao mang tầm vũ trụ của người cách mạng.

⇒ Tầm vóc của ý chí con người đã lớn lao hơn, không cam chịu trói mình trong khuôn khổ, vượt ra ngoài vòng kiểm tỏa

C. Kết bài

    Khái quát về những nét đặc sắc nghệ thuật đem lại thành công cho tác phẩm. Khẳng định lại nội dung tư tưởng của tác phẩm và liên hệ về ý chí, khát vọng của con người trong thời đại hiện nay.

Dàn ý Phân tích Lưu biệt khi xuất dương – Mẫu số 4

A, Mở bài

– Giới thiệu tác giả Phan Bội Châu và bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương”

    Phan Bội Châu là một trong những nhà yêu nước tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam. năm 1905 Trước khi lên đường sang Nhật Bản để tìm kiếm con đường cứu nước Phan Bội Châu đã viết bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương”. Tác phẩm đã thể hiện ý tưởng lớn lao, mới mẻ đầy trách nhiệm của tác giả, thể hiện niềm hăm hở, quyết tâm cao độ trong buổi đầu vượt biển đi ra nước ngoài để “mưu sự phục quốc”.

B. Thân bài:

1. Hai câu thơ đầu:

    Phan Bội Châu đã đưa ra một lời tuyên ngôn về trí làm trai một cách đầy khí thế 

    “Sinh vi nam tử yếu hi kỳ/Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di”.(Làm trai phải lạ ở trên đời/Há để càn khôn tự chuyển dời)

    Làm trai phải “lạ”, có nghĩa là phải sống khác mọi người, không được giống với bất kì ai để tạo nên điểm riêng biệt. 

    Lạ” cũng có nghĩa là điều phi thường, hiển hách, xoay chuyển cả trời đất

    Câu thơ thể hiện một lối sống chủ động, không chùn bước, nản chí để mặc cho hoàn cảnh chi phối mà phải có bản lĩnh để làm chủ hoàn cảnh

    Phan Bội Châu ôm ấp khát vọng xoay chuyển được càn khôn chứ không để “càn khôn tự chuyển dời”.

    Ông không đầu hàng, khuất phục trước số phận, hoàn cảnh mà dùng chính khả năng của mình để thay đổi hoàn cảnh, dám đối mặt với càn khôn, đất trời, vũ trụ để tự khẳng định bản thân, phấn đấu đạt được giấc mộng công danh. 

    Chí làm trai đã được nhắc đến trong văn học từ thời xa xưa nhưng đặc biệt được đề cao ở thời kì chế độ phong kiến, thời kì đạo Nho phát triển mạnh mẽ. Nam nhi phải có công danh, sự nghiệp thì mới đáng làm trai. Chẳng vậy mà trong bài thơ “Tỏ lòng”, Phạm Ngũ Lão đã viết: “Công danh nam tử còn vương nợ/Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

    Chí làm trai của ông được kế thừa từ truyền thống của dân tộc, là ý chí của một đấng nam nhi hiên ngang trong vũ trụ, dám ngạo nghễ và thách thức với trời đất.

2. Hai câu thơ thực

    Trong cuộc đời trăm năm hữu hạn, Phan Bội Châu muốn cống hiến sức mình cho đất nước, làm nên những công trạng phi thường, lớn lao để xứng đáng làm một nam nhi lưu danh vào thiên cổ ngàn năm

    “Ư bách niên trung tu hữu ngã/Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”(Trong khoảng trăm năm cần có tớ/Sau này muôn thuở, há không ai?)

    Đây là cái tôi mang đầy trách nhiệm, chủ động tích cực chứ không phải cái tôi vị kỉ, chỉ biết lo nghĩ cho lợi ích của cá nhân

    Sự đối nhau hài hòa giữa sự vô hạn của thời gian và sự hữu hạn của đời người, Phan Bội Châu dùng cái phủ định để làm nền, làm nổi bật lên điều ông khẳng định.

    Trong một trăm năm hữu hạn ấy, người nam nhi phải thực hiện được chí làm trai và cũng trong ngàn năm sau đó phải để lại được tiếng thơm cho đời mãi mãi về sau

3. Hai câu luận:

    Gắn với hoàn cảnh thực tại của đất nước, Phan Bội Châu đã nêu lên trách nhiệm mà người nam nhi cần có đối với vận mệnh dân tộc

    “Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế/Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”! (Non sông đã chết, sống thêm nhục/Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài !)

    Ý thức được tình hình đất nước, thời cuộc: Đất nước bị xâm lược, non sông cũng không còn nữa thì ta có sống cũng chỉ chuốc lấy sự nhục nhã, ê chề. Sách vở, người có học thức cũng trở thành vô nghĩa khi chủ quyền đất nước bị xâm phạm

    Việc làm quan trọng và thiết thực nhất lúc bấy giờ là tìm được con đường, hướng đi cho đất nước để thoát khỏi sự xâm lược, bóc lột của thực dân Pháp. 

    Hai câu luận có ý nghĩa thức tỉnh những con người có tấm lòng yêu nước,đây cũng là lúc để họ xoay chuyển càn khôn, xoay chuyển cục diện, tình hình của dân tộc.

Thể hiện tư tưởng thức thời tiến bộ của Phan Bội Châu

4. Hai câu thơ kết

    “Nguyện trục trường phong Đông hải khứ/Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi”. (Muốn vượt bể Đông theo cánh gió/ Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.)

    “Bể đông”, “cánh gió”, “sóng bạc” là những hình ảnh thơ kì vĩ, hào hùng ẩn dụ cho khát vọng vượt lên hiện thực tăm tối để tìm đường cứu nước của Phan Bội Châu. 

    Bản dịch thơ của Tôn Quang Phiệt tuy chưa dịch sát nghĩa của từ “nhất tề phi” nhưng cũng đã phần nào thể hiện sức mạnh, lòng yêu nước tràn đầy nhiệt huyết và tinh thần chiến đấu sục sôi của tác giả

    Trong bối cảnh của thời đại mới, con người cần phải có những tư tưởng hành động bắt kịp thời đại, có như vậy mới tìm ra được con đường cứu nước đúng đắn, mang lại sự tự do cho dân tộc. 

C. Kết bài:

    Bài thơ đã thể hiện ý chí tinh thần của Phan Bội Châu trong buổi đầu quyết tâm xuất ngoại đi cứu nước. Qua đó thấy được một tấm lòng yêu nước nồng nàn, một con người với tư tưởng tiến bộ trước thời cuộc sẵn sàng không hiến hết mình vì dân tộc, vì Tổ quốc. Trong hoàn cảnh đất nước bây giờ bài thơ không chỉ là một lời tự bạch mà còn là lời cổ vũ động viên khơi dậy tinh thần yêu nước của mỗi người con đất Việt. Và có lẽ tới tận bây giờ và mãi mãi về sau giá trị bài thơ thơ sẽ mãi tỏa sáng trên bầu trời văn học dân tộc.

Dàn ý Phân tích Lưu biệt khi xuất dương – Mẫu số 5

1. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ

– Năm 1905 Phan Bội Châu lên đường sang Nhật Bản. Khi chia tay bạn bè, đồng chí, Phan ứng khẩu đọc bài thơ này. Bối cảnh lịch sử, xã hội Việt Nam lúc đó có những điểm đáng chú ý sau:

+ Đất nước ta đang trong một hoàn cảnh chính trị rất đen tối, các cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp đã hầu như tan rã, thực dân Pháp đã làm chủ tình thế,ách đô hộ đã mặc nhiên quàng lên đầu lên cổ nhân dân. Nói như Phan Châu Trinh:

Vạn dân nô lệ cương quyền hạ,

Bát cổ văn chương túy mộng trung.

(Muôn dân nô lệ một đàn,

Văn chương bát cổ nồng nàn giấc say.)

– Tìm hiểu bài thơ Xuất dương lưu biệt của Phan Bội Châu

+ Trong một bộ phận những người trí thức dân tộc, ý chí cứu nước không hề bị thui chột, nhưng vấn đề đặt ra cấp thiết là cứu nước bằng con đường nào? Và một ánh sáng mới đã bắt đầu loé lên. Người ta đón nhận những tư tưởng mới từ bên trời Âu truyền sang, người ta say sưa trước những thành tích duy tân của nước Nhật Bản, Trung Hoa. “Kì diệu thay là sức quyến rũ của lí tưởng… thực tế càng ủ dột bao nhiêu thì cái viễn cảnh của tưởng tượng lại càng đẹp đẽ, thấm thía bấy nhiêu. Luồng máu nóng trong quả tim trai trẻ bị kích thích đã bùng lên đến tột độ” (Đặng Thai Mai). Phan Bội Châu ra đi trong niềm say mê lí tưởng đó với một sứ mạng lịch sử đè nặng đôi vai: khôi phục lại đất nước, tái tạo giang sơn.

2. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng lãng mạn hào hùng sôi trào nhiệt huyết và cháy bỏng khát vọng ước mơ.

– Chí làm trai:

+ Chí làm trai là một lí tưởng nhân sinh trong chế độ phong kiến, thể hiện tư tưởng nhập thế tích cực của đạo Nho. Chí làm trai đó thường gắn với cái mộng công danh:

Công danh nam tử còn vương nợ

(Phạm Ngũ Lão)

Không công danh thời nát với cỏ cây

(Nguyễn Công Trứ)

hoặc để thoả cái chí tang bồng hồ thỉ:

Chí làm trai nam, bắc, tây, đông,

Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể

(Nguyễn Công Trứ)

    Và trong thực tế, không ít người đã lập nên công tích ở đời như Phạm Ngũ Lão từng “Múa giáo non sông trải mấy thu”, đánh đuổi giặc xâm lăng, giữ gìn đất nước; như Nguyễn Công Trứ từng khơi sông lấp biển, mang cuộc sống ấm no lại cho nhân dân… Phan Bội Châu cũng nói đến chí làm trai và cũng mong làm nên chuyện lạ ở đời:

Làm trai phải lạ ở trên đời,

    Nhưng ở một nhà nho tân học, một nhà cách mạng nhiệt thành đang say mê hướng tới ánh sáng lí tưởng mới như Phan Bội Châu thì chuyện lạ đâu có phải là chuyện công danh, cũng đâu phải chỉ là phỉ sức vẫy vùng! Giữa lúc non sông chìm đắm, chí của Phan là chí xoay trời chuyển đất, lấp bể, vá trời chứ đâu chịu ngồi yên mà nhìn đất nước an bài theo ý muốn của bọn thực dân:

Há để càn khôn tự chuyển dời

    Đó là lí tưởng sống mà vì nó Phan sẵn sàng hiến trọn cuộc đời mình, lí tưởng mà trước đó không lâu Phan đã nói rõ trong bài hát nói Chơi xuân:

Phùng xuân hội, may ra, ừ cũng dễ,

Nắm địa cầu vừa một tí con con.

Đạp toang hai cánh càn khôn

Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà.

    Với một lẽ sống như thế, tư thế con người trong vũ trụ là tư thế của một con người khổng lồ, con người làm chủ hoàn cảnh. Trong cảnh cá chậu chim lồng, giữa những tiếng thở dài bất lực “thời cơ đã lỡ rồi” của văn thơ Cần Vương cuối thế kỉ XIX, cái lẽ sống hào hùng, cái tư thế mạnh mẽ chủ động ấy có sức thu hút biết bao đối với cả một thế hệ thanh niên đương thời!

– Ý thức tự khẳng định mình giữa cuộc đời:

Trong khoảng trăm năm cần có tớ,

Sau này muôn thuở há không ai?

+ Sự tự khẳng định này cũng là sự tự khẳng định của cái Tôi nhưng là một cái Tôi khác hẳn với cái Tôi cá nhân tư sản chỉ biết đòi hưởng thụ mà trốn tránh trách nhiệm với đời. Đây là một thái độ sống tích cực không buông trôi theo dòng đời mà cũng không thụ động chờ đợi. Cái Tôi ở đây là một cái Tôi trách nhiệm chủ động ghé vai gánh vác trọng trách ở đời. Lẽ sống anh hùng ấy gắn gắn liền với một nhân sinh quan thật cao cả, đẹp đẽ, nó vượt ra ngoài cái danh lợi tầm thường, tuy vẫn có ước vọng thật chính đáng là để lại tiếng thơm muôn đời.

– Quan niệm về vinh nhục:

+ Trong những tác phẩm văn học khác, có lúc Phan Bội Châu đã nói: “Bôi mặt thờ kẻ thù sẽ là một vật bẩn thỉu trong vũ trụ” (Việt Nam quốc sử khảo), “Sao bằng ngẩng đầu lên làm người lỗi lạc của Tổ quốc” (Hoà lệ cống ngôn). Đó là quan niệm về nỗi nhục và vinh trong trong câu thơ này:

Non sông đã chết sống thêm nhục

    Ở thời đại của Phan, không ít người thấm thía cái nỗi đau, nỗi nhục mất nước này, nhưng cách nói của Phan có cái gì đặc biệt, kích động tâm can con người. Một sự khẳng định thật dứt khoát, hàm chứa nỗi tức tối khôn nguôi “Giang sơn tử hĩ”(Non sông đã chết). Một sự phủ định cũng thật dứt khoát nhưng lại hàm chứa sự nóng bỏng sôi sục của con người không cam chịu cúi đầu; phủ định cuộc sống nhục nhã để tìm đến một lẽ sống vinh quang chứ không phải để chìm đắm trong đau buồn, thất vọng. Con người Phan là thế, lúc nào cũng sôi trào bầu nhiệt huyết.

– Thái độ với những thần tượng cũ:

Hiền thánh còn đâu học cũng hoài

    Phan Bội Châu là một nhà nho, đã từng qua cửa Khổng, sân Trình, sách vở thánh hiền đã từng thấm sâu vào tim óc. Nhưng cùng với cả một thế hệ nhà nho tâm huyết lúc này, Phan đã được tận mắt thấy sự sụp đổ của những thần tượng cũ trước làn sóng xâm lăng của thực dân, thấy sự bất lực của những tín điều xưa trước những vấn đề có liên quan đến sự mất còn của đất nước. Hơn thế nữa, ở thời đại “gió Âu, mưa Mĩ” này, một chân trời mới mẻ đã hé rạng trước mắt các nhà nho tiên tiến như Phan Bội Châu. Cái vốn sống, vốn tri thức ấy cộng với bầu nhiệt huyết sôi trào của một con người đang hăm hở tìm đường cứu nước đã giúp Phan Bội Châu có được một ý tưởng táo bạo và dứt khoát như thế với những cái gì đã cũ kĩ, lỗi thời, không đảm đương được trách nhiệm lịch sử đối với dân tộc nữa.

– Khát vọng và tư thế trong buổi lên đường:

+ Từ đầu bài thơ là những lời bộc bạch đầy hào khí, đến hai câu kết này, tác giả mượn một hình ảnh thơ thật đẹp, thật hùng tráng để bày tỏ lòng mình:

Muốn đuổi theo ngọn gió dài để đi ra biển Đông,

Ngàn đợt sóng bạc cùng bay lên.

    Phan Bội Châu ra đi lần này là để đi “tìm hình của nước”, để tiếp cận cái chân trời mơ ước đã mở ra từ những trang sách “tân thư”. Cho nên trong hành trang Phan Bội Châu mang theo không phải chỉ có cái chí “Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà” của bản thân, mà còn cả biết bao kì vọng của bạn bè, đồng chí, của nhân dân. Trách nhiệm đè nặng đôi vai, nhưng tâm hồn thì như đã rứt tung xiềng xích, thả sức cho khát vọng ước mơ. Những ngọn gió dài (trường phong) và muôn trùng sóng bạc cùng một lúc bay lên (Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi) đã chắp cánh cho những khát vọng, ước mơ đó. Ta có cảm giác chính nhà cách mạng, nhà thơ này đã hoá thân thành những cánh chim bằng bay vút lên giữa sóng gió biển khơi, giữa cao rộng đất trời… Hình ảnh mang tính chất anh hùng ca này là kết tinh toàn bộ cái cảm hứng lãng mạn, hào hùng, cái tư thế khoẻ khoắn, hăm hở đầy nhiệt huyết, cái quyết tâm phi thường của nhân vật trữ tình là chính tác giả trong suốt bài lưu biệt này.

+ Cùng với sự ra đi này của Phan Bội Châu, bài thơ Xuất dương lưu biệt có thể xem như mở đầu cho một loạt anh hùng ca của thời đại mới.

Dàn ý Phân tích Lưu biệt khi xuất dương – Mẫu số 6

A. Mở bài:

    Giới thiệu tác phẩm Lưu biệt khi xuất dương và tác giả Phan Bội Châu

    Ví dụ: Phan Bội Châu là nhà thơ, nhà văn, nhà Cách mạng kiệt xuất của Việt Nam. Nhắc đến ông là nhắc đến một ngòi bút tài hoa, một trí tuệ thông thái và một tấm lòng yêu nước thương nòi, luôn tìm cách để kiến thiết đất nước. Những tác phẩm văn học của ông mang đậm tư tưởng tân tiến, tầm nhìn xa trông rộng. Với “Lưu biệt khi xuất dương”, tư tưởng đó của Phan Bội Châu thể hiện ở ý chí làm trai và khao khát đóng góp công sức cho Tổ quốc.

B. Thân bài:

1. Tư tưởng và quan niệm của Phan Bội Châu về trách nhiệm, nghĩa vụ của bậc quân tử trong xã hội đương thời

– Người làm trai sống một cuộc đời phải để lại dấu ấn, phải có cơ đồ để đời sau thán phục

– Sinh vi nam tử yếu hy kỳ (Làm trai phải lạ ở trên đời)

– Khát vọng chế ngự thiên nhiên, xoay chuyển thời thế

– Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di (Há để càn khôn tự chuyển dời)

– Niềm mơ ước được cống hiến sức trẻ và trí tuệ cho đất nước

2. Tư tưởng của nhà thơ về cái tôi cá nhân, cái tôi của bậc quân tử đại trượng phu

– Trách nhiệm cống hiến và phụng sự Tổ quốc

Ư bách niên trung tu hữu ngã,

Khởi thiên tải hậu cánh vô thuỳ.

(Trong khoảng trong năm cần có tớ

Sau này muôn thuở há không ai?)

– Trách nhiệm lo toan cho cuộc sống của nhân dân

– Trách nhiệm ghi dấu ấn cái tôi cho người đời noi theo

3. Thực tại đau thương của triều đình lúc bấy giờ và những trăn trở của nhà thơ về sự nghiệp xây dựng cơ đồ

– Nỗi đau mất nước trong lòng tác giả

Giang sơn tử hĩ sinh đồ nhuế,

Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si.

(Non sông đã chết, sống thêm nhục,

Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài!)

– Gợi mở con đường cứu nước, dựng nước với lăng kính bác ái, tiến bộ, không bị bó hẹp bởi giáo điều

4. Khát khao được cống hiến cho nước nhà, sẵn sàng xả thân vì nước, một tay lãnh đạo cải tổ chính triều

Nguyện trục trường phong Đông hải khứ,

Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi.

(Muốn vượt bể Đông theo cánh gió

Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi)

C. Kết bài :

– Khẳng định vị trí của tác phẩm trong nền văn học nghệ thuật

– Nghệ thuật sử dụng trong tác phẩm

– Nêu cảm nhận cá nhân

Dựa vào Top 6 dàn ý Phân tích Lưu biệt khi xuất dương được THPT Ninh Châu sưu tầm được, hy vọng các em sẽ có thêm nhiều kiến thức và những gợi ý hay để có thể làm tốt bài văn của mình. Chúc các em học tốt!

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 11, Ngữ Văn 11

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button