Lớp 10Ngữ Văn

Yêu và đồng cảm – Phong Tử Khải (Tóm tắt, hoàn cảnh st, nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy) – Văn 10

Khái quát Tác giả – Tác phẩm: Yêu và đồng cảm bao gồm Giới thiệu tác giả Phong Tử Khải và hoàn cảnh sáng tác, thể loại, bố cục, tóm tắt, giá trị nội dung, đặc sắc nghệ thuật tác phẩm Yêu và đồng cảm – SGK Văn 10 Kết nối tri thức.

Tác giả – Tác phẩm: Yêu và đồng cảm – Phong Tử Khải

I. Giới thiệu tác giả Phong Tử Khải

Phong Tử Khải (1898-1975). Nhà tản văn, họa sĩ. Ông từng tôn Pháp sư Hoằng Nhất (Lý Thúc Đồng) làm thầy, thông hiểu văn hóa Trung Quốc lẫn phương Tây.

Bạn đang xem: Yêu và đồng cảm – Phong Tử Khải (Tóm tắt, hoàn cảnh st, nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy) – Văn 10

Phong cách sáng tác:

Tản văn của ông có phong cách bình dị mộc mạc, ý nghĩa khoan hậu nhân từ mà sâu sắc, và cả sự thú vị hồn nhiên như trẻ thơ, là những giai phẩm được tôn sùng trong văn học hiện đại Trung Quốc, nhiều lần được chọn đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn bậc tiểu học và trung học.

Tranh của ông hầu hết có nội dung dành cho thiếu nhi, hài hước dí dỏm, phản ánh các hiện tượng xã hội. Vì vậy, chúng được lưu truyền rộng rãi, được nhiều người yêu thích, sưu tầm.

II. Khái quát tác phẩm Yêu và đồng cảm 

1. Hoàn cảnh sáng tác

 – Văn bản Yêu và đồng cảm được trích trong tập Sống vốn đơn thuần của Phong Tử Khải, là chương 5 của cuốn sách, có tiêu đề là Sống mà học nghệ thuật.

– Sống vốn đơn thuần là tập văn – họa khá đặc trưng cho phong cách viết, vẽ của tác giả

2. Bố cục

Văn bản Yêu và đồng cảm được chia thành 4 phần:

Phần 1: Đoạn 1 + 2: Những cảm nhận ban đầu và cách lý giải của tác giả về lòng đồng cảm

Phần 2: Đoạn 3: Cách thể hiện và ý nghĩa của lòng đồng cảm

Phần 3: Đoạn 4 + 5: Đối tượng của lòng đồng cảm và điểm tương đồng trong sự đồng cảm giữa trẻ em và người nghệ sĩ

Phần 4: Đoạn 6: Thông điệp gửi gắm của tác giả mong muốn mọi người hãy có lòng đồng cảm với vạn vật trong cuộc sống thường ngày

3. Tóm tắt văn bản

   Yêu và đồng cảm là đoạn trích thuộc tác phẩm Sống vốn đơn thuần của tác giả Phong Tử Khải, đoạn trích mở đầu bằng lời kể của tác giả về một chú bé xếp đồ giúp mình, về lòng đồng cảm của chú bé với tất cả đồ vật có trong phòng. Văn bản nói về tấm lòng đồng cảm không chỉ của đứa bé hay người họa sĩ mà còn cả sự đồng cảm của mọi nghề nghiệp nhưng lòng đồng cảm và cách nhìn mọi vật của họ không giống nhau. Người nghệ sĩ cũng giống như trẻ em, luôn đồng cảm với mọi sự vật, kể cả những đồ vật từ cái bàn, cái ghế đến bông hoa, cây cỏ, … Văn bản khẳng định quan niệm của tác giả về lòng đồng cảm của người nghệ sĩ và tôn trọng, ngợi ca tấm lòng đồng cảm của trẻ em.

4. Giá trị nội dung 

– Cho thấy lòng đồng cảm luôn hiện hữu trong cuộc sống của con người và tác động đến cả vạn vật xung quanh.

– Khẳng định giá trị và ý nghĩa của lòng đồng cảm đối với con người, giúp cuộc sống nhiều cảm xúc và con người có thể gần gũi, gắn kết nhau hơn.

– Lòng đồng cảm không chỉ giữa con người với nhau mà còn giữa con người với thiên nhiên, vạn vật.

– Càng tự nhiên, thuần khiết, chúng ta càng giàu lòng đồng cảm với người khác hơn, ví dụ như trẻ thơ, họa sĩ, là những đối tượng dễ đồng cảm với vạn vật.

– Có sức truyền cảm mạnh mẽ tới độc giả, thúc đẩy mỗi cá nhân biết yêu thương và cảm thông với người khác.

5. Giá trị nghệ thuật

– Ngôn từ mộc mạc, dễ hiểu.

– Cách triển khai ý và luận điểm trong văn bản rõ ràng, logic.

– Văn phong tự nhiên, dễ tiếp nhận.

6. Tác phẩm Yêu và đồng cảm

Một đứa bé vào phòng tôi, giúp tôi sắp xếp đồ đạc. Thấy cái đồng hồ quả quýt úp mặt xuống bàn, nó lật lại hộ. Thấy chén trà đặt phía sau quai ấm trà, nó chuyển đến trước vòi đảo lại giúp. Thấy đây treo tranh trên tường buông thõng thò ra ngoài, nó bắc ghế trèo lên giấu vào trong hộ. Tôi cảm ơn:

“Cháu chăm quá, toàn dọn dẹp hộ chú thôi!”.

Nó trả lời: “Không đâu, chẳng qua thấy chúng như thế, cháu cứ bứt rứt không yên!”.

Đúng vậy, nó từng nói: “Đồng hồ quả quýt úp mặt xuống bàn, nó bực bội lắm đấy!”.

“Chén trà nấp sau lưng mẹ thì làm sao uống sữa được?”

“Giày chiếc xuôi chiếc ngược, làm sao chúng nói chuyện được với nhau?”

“Bím tóc của bức tranh thòng ra trước, trông như con ma vậy. 

Tôi phục sát đất tấm lòng đồng cảm phong phú của chú bé này. Từ đó tôi quả thực cũng để tâm tới vị trí của đồ vật, tạo điều kiện để chúng được dễ chịu. Vị trí đặt để chúng có. sự chăm chỉ hay vì điều đề chịu, ta nhìn mới thấy thư thái. Bấy giờ tôi mới sực nhận ra đề là tâm cảnh” trước cái đẹp, là thủ pháp thường dùng trong văn miêu tả, là vấn đề cấu trúc thường gặp trong hội hoạ. Những thứ đó đều được phát triển ra từ sự đồng cảm. Người bình thường chỉ có thể đồng cảm với đồng loại hoặc cùng lắm là với động vật mà thôi, cồn nghệ sĩ lại có lòng đồng cảm bao la quảng đại như tấm lòng trời đất, trải khắp vạn vật có tình cũng như không có tình.

Hôm sau tới trường cấp ba dạy nghệ thuật, tôi cũng giảng cho các em thế này: Mọi vật trên đời đều có nhiều  Góc Nghiêng về sự vật mặt, mỗi người chúng ta chỉ thấy được một mặt mà thôi. Ví được thể hiện thế nào ở những người có nghệ như cùng một gốc cây, những nhà khoa học, bác làm vườn chú thợ mộc, anh hoạ sĩ lại nhìn nhận nó dưới những góc độ khác nhau. Nhà khoa học thấy được tính chất và trạng thái của nó, bác làm vườn thấy sức sống của nó, chú thợ mộc thấy chất liệu của nó, anh hoạ sĩ thấy dáng vẻ của nó. Nhưng cái nhìn của anh hoạ sĩ lại khác hẳn ba người kia. Ba người kia đều có mục đích, đều nghĩ tới quan hệ nhân quả của cái cây, còn anh hoạ sĩ lại chỉ thưởng thức đáng vẻ của cái cây hiện tại, không còn mục đích gì khác. Thế nên anh hoạ sĩ thường nhìn thấy khía cạnh hình thức, chứ không phải khía cạnh thực tiễn. Nói cách khác là chỉ thấy thế giới của Mỹ chứ không phải thế giới của Chân và Thiện. Tiêu chuẩn giá trị trong thế giới của Mỹ khác hẳn trong thế giới của Chân và Thiện, chúng ta chỉ thưởng thức đáng vẻ, màu sắc, hình dạng của sự vật, chứ không quan tâm tới giá trị thực tiễn của nó.

Bởi vậy một gốc cây khô, một tảng đá lạ chẳng có giá trị sử đụng gì cả, nhưng trong mắt các họa sĩ [… | lại là một đề tài tuyệt vời. Bông hoa dại không tên, trong mắt nhà thơ cũng đẹp đẽ lạ thường. Bởi vậy thế giới mà nghệ sĩ thấy có thể coi là một thế giới đại đồng, bình đăng. Tấm lòng của nghệ sĩ đối với mọi sự vật trên đời đều đồng cảm và nhiệt thành.

[…] Hoạ sĩ đưa tấm lòng mình về trạng thái hồn nhiênnhư trẻ nhỏ để miêu tả trẻ em, đồng thời cũng đặt lòng mình vào biểu cảm đau khổ của người ăn mày để khắc hoạ cùng buồn cùng vui, cùng khóc cùng cười với đối tượng miêu tả; nếu không có tấm lòng đồng cảm bao la như thế mà chăm chăm vào kỹ thuật vẽ thì chắc chắn không thể trở thành hoạ sĩ thực sự được. Dù có vẽ được thì tối đa cũng chỉ là thợ vẽ mà thôi.

Nhờ có tấm lòng đồng cảm bao la như thế nên hoạ sĩ cũng đồng thời có được sức mạnh tinh thần phong phú mà dư dật”). Nếu nó không đủ khoáng đạt để đồng điệu với anh hùng thi không mô tả được anh hùng, nếu nó không đủ dịu dàng để hoà nhịp cùng thiếu nữ thì không khắc hoạ được thiếu nữ. Do đó, nghệ sĩ lớn ắt là những người có nhân cách vĩ đại.

Lòng đồng cảm của nghệ sĩ không chỉ dành cho đồng loại mà trải khắp sinh vật và phi sinh vật ở mọi  nơi; chó ngựa cỏ hoa, trên thế giới của Mỹ đều là vật đồng cảm được biểu hiện như sống có linh hồn, biết cười biết khóc. Nhà thơ thường nghe thấy chim cuốc kêu ra máu, con để mùa thu, thấy hoa đào cười gió đông, bươm bướm đắt xuân về, nếu xét dưới góc nhìn thực tiễn thì những điều đó đều là lời lắm nhảm của nhà thơ. Thực ra nếu chúng ta bước được vào thế giới của Mỹ, mở rộng lòng ra để biết đồng cảm nhiều hơn với vạn vật thì sẽ cảm nhận được rõ rệt những tình cảnh ấy. Hoạ sĩ và nhà thơ chẳng khác gì nhau, hoạ chăng là hoạ sĩ chú trọng đến hình dạng và tư thái,) mà thôi. Chưa đích thân trải nghiệm sức sống của rồng ngựa thì chẳng vẽ được rồng ngựa, không chứng kiến vẻ đẹp rắn rỏi của tùng bách thì đâu hoạ nổi tùng bách. […] Hoạ sĩ chúng tôi vẽ một cái bình hoa là phải để tâm vào bình hoa, để mình biến thành bình hoa cảm nhận cái lực của bình hoa mới thể hiện được cái thân của bình hoa. Tấm lòng chúng tôi phải chiếu sáng cùng với bình minh thì mới miêu tả được bình minh, dập dờn theo sóng bể lăn tăn thì mới khắc hoạ được sóng bể. Đây là cảnh giới “ta và vật một thể”, vạn vật đều thu cả vào tâm trí của người nghệ sĩ.

Người bình thường bẩm sinh ít nhiều cũng đã có sự đồng điệu đồng cảm với hình dạng tư thái của vạn vật rồi. Cách bày biện trang trí nhà cửa, hình dạng màu sắc đồ đạc, sở dĩ đòi hỏi mỹ quan, là để phù hợp với thiên bẩm”) ấy. Thấy toàn những hình dạng màu sắc đẹp đẽ, tâm hồn chúng ta cùng thư thái lây; trái lại nếu chỉ thấy rặt những hình dạng, màu mè xấu xí, chúng ta cũng đâm ra khó chịu. Có điều mức độ đồng cảm nông sâu cao thấp khác nhau. Có lẽ chẳng ai trên đời hoàn toàn vô cảm với thế giới của hình dạng và màu sắc cả, cÓ chăng là kẻ tư chất nông cạn cùng cực hoặc là nô lệ của lí trí, ấy đúng thực là người “vô tình” vậy. Về mặt này chúng ta không thể không ca tụng các em bé. Bởi trẻ em phần lớn rất giàu lòng đồng cảm. Hơn nữa, chúng không chỉ đồng cảm với con người mà bằng một cách hết súc tự nhiên, còn đồng cảm với hết thảy sự vật như chó mèo, hoa cỏ,chim cá, bướm sâu,… Chúng hồn nhiên trò chuyện với chó mèo, hồn nhiên hôn lên hoa cỏ, hồn nhiên… Người sáng tạo nghệ thuật học chơi với búp bê, tấm lòng chúng chân thành mà tụ  nhiên hơn nghệ sĩ nhiều! Chúng thường để ý đến những việc mà người lớn không chú tâm đến, phát hiện ra những điểm mà người lớn không phát hiện được. Bởi vậy bản chất của trẻ thơ là nghệ thuật.

Nói cách khác, con người ta vốn là nghệ thuật, vốn giàu lòng đồng cảm. Chỉ vì lớn lên bị cách nghĩ của người đời dồn ép, nên tấm lòng ấy mới bị cản trở hoặc hao mòn. Chỉ có kẻ thông minh mới không khuất phục, đù bên ngoài chịu đủ thứ áp bức thì bên trong vẫn giữ được lòng đồng cảm đáng quý ngọ. Những người ấy chính là nghệ sĩ.

Các nhà phê bình nghệ thuật phương Tây khi bàn về tâm lý nghệ thuật, có cách nói gọi là “ đặt tình cảm vào”, chỉ việc chúng ta đặt tình cảm của mình vào tác phẩm nghệ thuật hoặc thiên nhiên đẹp đề, đồng cảm với chúng, bấy giờ sẽ thể nghiệm được tư vị của cái đẹp. Chúng ta lại biết hành vi hoà mình này hay gặp nhất trong cuộc sống của trẻ nhỏ. Chúng thường dốc hết hứng thú vào chơi đùa mê mải, quên cả đói rét mệt mỏi.

[…] Tuổi thơ quả là thời hoàng kim trong đời người! Tuy thời hoàng kim của chúng ta đã trôi qua, nhưng nhờ bồi dưỡng về nghệ thuật, chúng ta vẫn có thể thấy lại thế giới hạnh phúc, nhân ái và hoà bình ấy.

(Phong Tử Khải, Sống vốn đơn thuần, Tố Hinh dịch,

NXB Hà Nội — Công ti Văn hoá & Truyền thông Nhã Nam, Hà Nội, 2020, tr. 268 – 273)

7. Sơ đồ tư duy

Yêu và đồng cảm - Phong Tử Khải (Tóm tắt, hoàn cảnh st, nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy)

III. Câu hỏi vận dụng kiến thức tác phẩm Yêu và đồng cảm

Câu 1: Tác giả mở đầu bài viết bằng một câu chuyện, điều đó gây được ấn tượng gì với bạn?

Lời giải:

Mở đầu bài viết bằng một câu chuyện là một cách dẫn dắt thú vị, tạo hứng thú, tò mò cho người đọc, tạo sự tự nhiên, tăng tính thực tế và hấp dẫn cho bài nghị luận.

Câu 2: Tác giả phục chú bé vì sự chăm chỉ hay vì điều gì khác?

Lời giải:

Tác giả phục chú bé không chỉ vì sự chăm chỉ mà còn cảm phục tấm lòng đồng cảm của chú bé. Chú bé ấy chăm chỉ xếp đồ vì chú thấy đồng cảm với chúng, hòa mình vào suy nghĩ, cảm xúc của đồ vật và xếp chúng về đúng vị trí của mình.

Câu 3: Góc nhìn riêng về sự vật được thể hiện thế nào ở những người có nghề nghiệp khác nhau?

Lời giải:

Những nghề nghiệp khác nhau nhìn nhận một sự vật dưới những góc độ khác nhau, cụ thể với một gốc cây:

Nhà khoa học nhìn thấy tính chất và trạng thái của gốc cây.

Bác làm vườn lại nhìn về sức sống của cây.

Còn chú thợ mộc lại thấy được chất liệu tốt hoặc kém của gốc cây.

Anh họa sĩ nhìn về dáng vẻ của cây, chỉ đơn thuần thưởng thức dáng vẻ của cây, không còn mục đích gì khác.

Câu 4: Phải chăng sự đồng cảm là một phẩm chất không thể thiếu của người nghệ sĩ?

Lời giải:

Lòng đồng cảm là một phẩm chất không thể thiếu của người nghệ sĩ, vì:

– Người nghệ sĩ cần đồng điệu, đồng cảm với đối tượng mới có thể tạo ra một tác phẩm xuất sắc.

– Người nghệ sĩ có lòng đồng cảm thì các tác phẩm được tạo ra sẽ có hồn hơn, dễ dàng đến gần hơn với người khác.

Lời giải: Nhà thơ Xuân Diệu từng viết: “Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non” (Đôi mắt xanh non, trong tập Riêng chung, NXB Văn học, Hà Nội, 1960). Dựa vào nội dung văn bản Yêu và đồng cảm, hãy thử nêu lí do khiến nhà thơ Xuân Diệu đề nghị như vậy.

Lời giải:

Lí do khiến nhà thơ Xuân Diệu đề nghị như vậy:

– Đôi mắt xanh non là chỉ đôi mắt của trẻ con, nhìn đời một cách ngây thơ, hồn nhiên nhất để cảm nhận thế giới trong một màu hồng tươi đẹp.

– Nhìn đời bằng đôi mắt của trẻ nhỏ sẽ giúp ta cảm nhận cuộc sống dưới một góc độ tươi đẹp hơn, không có sự mệt mỏi và chỉ tràn đầy niềm vui, hạnh phúc.

– Nhà thơ muốn quay trở lại tuổi thơ, trở lại hình hài của một đứa trẻ để cảm nhận được tình yêu, niềm hạnh phúc khi được vui chơi mà không cần lo nghĩ việc đời. 

>>> Xem trọn bộ: Tác giả – Tác phẩm Văn 10 Kết nối tri thức

—————————–

Trên đây THPT Ninh Châu đã cùng các bạn Khái quát về Tác giả – Tác phẩm: Yêu và đồng cảm trong bộ SGK Văn 10 Kết nối tri thức theo chương trình sách mới. Chúng tôi hi vọng các bạn đã có kiến thức hữu ích khi đọc bài viết này. THPT Ninh Châu đã có đầy đủ các bài giới thiệu về tác giả tác phẩm các bộ sách mới Cánh Diều, Chân trời sáng tạo, Kết nối tri thức. Mời các bạn hãy click ngay vào trang chủ THPT Ninh Châu để tham khảo và chuẩn bị bài cho năm học mới nhé. Chúc các bạn học tốt! 

Đăng bởi: THPT Văn Hiến

Chuyên mục: Lớp 10,Ngữ Văn 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button